Bạn chưa có tài khoản? Hãy bấm vào đây để đăng ký làm thành viên của chúng tôi!
Trường Trung Học Công Lập Tân Châu

Trường Trung Học Công Lập Tân Châu

Bay Về Tổ Ấm
Hôm nay, 12 Tháng 12 2017, 13:08
Thời gian được tính theo giờ UTC - 4 Giờ [ Giờ DST ]

Đăng nhập

Tên thành viên: Mật khẩu: Đăng nhập tự động mỗi lần ghé thăm Ẩn trạng thái trực tuyến của tôi trong phiên đăng nhập này


Trung Học Tân Châu


» LÃNH MỸ A TÂN CHÂU-MỘT THỜI VANG BÓNG - NVT «




Tạo chủ đề mới Gửi bài trả lời [ 16 bài viết ] [ 0 tập tin đính kèm ] Chuyển đến trang 1, 2  Trang kế tiếp
Người gửi Nội dung (Xem: 68188 | Trả lời: 15)
Tiêu đề bài viết: LÃNH MỸ A TÂN CHÂU-MỘT THỜI VANG BÓNG - NVT
Gửi bàiĐã gửi: 10 Tháng 7 2012, 14:10
Ngoại tuyến
Super Member
Super Member

Tuổi: 60
Sinh nhật: 24-11-1957
Ngày tham gia: 29 Tháng 6 2012, 12:52
Bài viết: 377
Quốc gia: Vietnam (vn)

Người tạo chủ đề
LÃNH MỸ A TÂN CHÂU-MỘT THỜI VANG BÓNG
Nguyễn Văn Thắng
Kính dâng hương hồn Ba Má !

Hình ảnh
Bia làng nghề được dựng gần đây

Ngày xửa ngày xưa…
Lụa hay Lãnh là một loại vải mịn, mỏng được dệt bằng tơ. Loại lụa tốt nhất được dệt từ tơ tằm. Người ta nuôi tằm (Bombyx mori), lấy tơ xe sợi dệt thành lụa. Từ thời xa xưa lụa là một sản phẩm quí phái ,đắt tiền,chỉ dành cho vua chúa và tầng lớp thượng lưu trong xã hội.
Do có cấu trúc dạng lăng kính tam giác, lụa phản chiếu ánh sáng chiếu vào nó từ nhiều góc độ khác nhau tạo nên vẻ lấp lánh,óng ánh đặc trưng không một sản phẩm tương tự nào sánh được.

Dân gian ta có câu:
Người đẹp vì lụa, lúa tốt vì phân

Hay để nói lên nỗi lòng của người phụ nữ ý thức được vẻ đẹp của mình như "tấm lụa đào” mang vẻ đẹp trong trắng,quý phái,cao sang :
“Thân em như tấm lụa đào
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai?"


Trung Quốc là nước đầu tiên có nghề trồng dâu nuôi tằm trên thế giới, sau đó dâu tằm mới được phát triển và lan rộng đến các nước khác .Người Trung Quốc đã biết nuôi tằm và thuần hoá giống tằm cách đây 4-5 nghìn năm (khoảng năm 2200 trước Công nguyên). Ngày xưa, tơ tằm là một sản phẩm chăn nuôi thượng đẳng. Lụa dệt từ tơ tằm là đồ “ngự” chỉ dành cho vua chúa và hàng quí tộc. Mùa nắng mặc đồ lụa tơ tằm rất mát, ngược lại mùa lạnh thì rất ấm. Đồ lụa tơ tằm còn được dùng làm tặng phẩm của giới thượng lưu .

Bí mật của ngành dâu tằm tơ được người Trung Quốc giữ kín rất lâu, phải gần 1000 năm sau ngành nghề này mới được để lộ và lan truyền sang các nước lân cận bằng Con đường tơ lụa .

Thời nước Văn Lang xưa, làng Cổ Đô thuộc đất Phong Châu cũ nổi tiếng về nghề trồng dâu nuôi tằm. Dân làng đã phát triển nghể dệt lụa gấm cổ truyền từ rất lâu đời. Đình làng Cổ Đô nay thuộc Ba Vì, Hà Tây (từ năm 2008 thuộc Hà Nội), thờ bà Công chúa Hoàng Phủ Thiếu Hoa, con gái của Hùng Định Vương tổ sư nghề dâu tằm tơ lụa. Bà được dân làng tôn thờ làm “Đương Cảnh Thành hoàng” và được các triều vua phong sắc với các mỹ tự như: “trinh thục”, “đoan trang” v.v… đó là thể hiện lòng biết ơn của dân chúng với người có công lao to lớn dạy nghề cổ truyền cho dân. Sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi ghi: “Ở vùng này (Sơn Tây) đất thì trắng, hợp với bãi trồng dâu… Huyện Tiên Phong (Quảng Oai, Ba Vì) và huyện Thanh Oai (Sơn Nam Thượng) có lụa là”.
Từ điển phổ thông ngành nghề truyền thống Việt Nam viết: “Chính Công chúa là người đầu tiên tìm ra con tằm và phát minh ra nghề tằm tang và nghề dệt lụa.”

Trong thư tịch thì sách Hán Thư cũng ghi là người Lạc Việt biết trồng dâu nuôi tằm và lại ghi rõ là "một năm có hai vụ lúa, tám lứa tằm"

Theo Quốc Triều chính biên , Ở nước ta vào năm 1832, vua Minh Mạng đã có lệnh truyền cho bộ Lễ giao cho các phi tần đốc xuất các cung nhân lựa đất chăm tằm. Việc làm ấy rất có hiệu quả. Cuối năm đó, tơ kén được đầy nong và các bà đã dệt thành lụa dâng lên vua xem. Nhân đó nhà vua chủ trương mở rộng công việc ấy để khuyến khích nghề tằm tang.
Năm 1836, vua Minh Mạng lại nghe Trung Quốc có loại kén trắng, có chất tơ tốt hơn tằm nuôi ở Việt Nam, nhà vua lại ban chỉ dụ cho người không ngại đường xa hàng nghìn dặm, trả giá đắt để mua về. Giao cho đốc phủ các tỉnh cho người chăn nuôi, làm cho giống tằm trắng phát triển rộng khắp trong dân gian …

Nắng Sài gòn anh đi mà chợt mát…

Như vậy có thể nói nghề trồng dâu nuôi Tằm,ươm tơ,dệt lụa ở Việt Nam ta đã được nhân rộng và phát triển từ thời nhà Nguyễn. Với tấm gương nhà vua, hoàng hậu, công chúa đều nuôi tằm tơ nên từ xa xưa nghề tằm tang đã được xem là một nghề cao quý. Những hình ảnh trồng dâu nuôi tằm ,ươm tơ,dệt lụa đã đi vào văn học từ xa xưa. Con gái xuất thân từ các làng trồng dâu nuôi tằm,ươm tơ dệt lụa như Tân Châu ta ngày xưa đều có nước da trắng ngần,dáng đi nhẹ nhàng uyển chuyển, nói năng nhỏ nhẹ và đặc biệt rất dễ thương và đã đi vào thi ca với hình tượng người phụ nữ đảm đang ,duyên dáng của nghề ươm tơ dệt lụa.

Vầng trăng từ độ lên ngôi.
Năm năm bến cũ em ngồi quay tơ
(Lưu Trọng Lư)


Vì tằm tang là một nghề rất đẹp và nên thơ cộng với những tính năng ưu việt mà không loại sản phẩm nào tương tự có thể sánh được,lụa tơ tằm đã đi vào đời sống con người với những lời ngợi ca tôn vinh nhan sắc của người phụ nữ :

Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông
(Áo lụa Hà đông –thơ Nguyên Sa-Ngô Thụy Miên phổ nhạc)

Quay quay thương nhớ quyến vào tơ
Quay quay chăn ấm quấn thân chàng
Mỗi một đường tơ là mỗi dây tình
Trong lòng em dâng người hiên ngang
Nhịp xe quay vang trong tiếng gió đìu hiu
Mình tơ êm óng chuốt như nắng hanh vàng
Mùa lá trút sắp qua nhớ chàng quay gấp bánh xe
Tơ vàng chắn lối gió đông cho..đêm không lạnh lùng
("Tiếng Hát Quay Tơ"- NS Tử Phác)


Và trên đất nước Việt Nam, không chỉ có lụa Hà Đông mà lụa Bảo An (Quảng Nam),Tân Châu (An Giang) và của nhiều vùng đất khác nữa,lụa tơ tằm khi sử dụng trong ngành may mặc và thời trang rất đẹp, làm tôn lên dáng dấp thanh tao,dịu dàng của người phụ nữ và đặc biệt là mặc rất mát vào mùa hè,ấm áp vào mùa đông lạnh lẽo.

Nghề trồng dâu nuôi tằm đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn nhiều so với các cây trồng khác, vì sản phẩm dâu tằm có giá trị cao, vòng quay lứa tằm ngắn chỉ có 20 ngày.
Sợi tơ tằm với những tính năng ưu việt của nó đã được tôn vinh là “Nữ hoàng tơ lụa “ mặc dù sản lượng sợi tơ sản xuất ra thấp hơn nhiều so với các loại sợi khác như: bông, đay, gai...

Con Tằm rút ruột nhả tơ…

Chung quanh con tằm có bao nhiêu là chuyện để nói hoài không hết , nào là tằm nhả tơ vàng, óng mượt cho người dệt nên lụa là, là một vật phẩm quí báu mà thiên nhiên ban tặng cho con người .
Nào là tơ tằm hết sức bền, nó có suất căng có thể sánh với thép và mặc dù đã và đang có mặt trong các sản phẩm dệt sang trọng trong hàng thế kỉ qua, quá trình tạo tơ bên trong cơ thể con Tằm đến bây giờ vẫn còn là một cái gì đó bí ẩn, với các nhà khoa học khác nhau cùng những lời giải thích khác nhau.

Vòng đời của con Tằm rất đặc biệt,nó là loại côn trùng biến thái hoàn toàn, trong giai đoạn tằm ăn lá dâu để tích luỹ dinh dưỡng, cơ thể tằm trong giai đoạn này lớn lên rất nhanh, tằm sắp chín lớn gấp 8.000-10.000 lần so với tằm mới nở.
Tằm ta nhả tơ cuộn quanh mình thành cái kén có hình dáng oval thon dài, và khoảng bằng ngón tay cái có màu vàng óng (hoặc trắng) rất đẹp.
Để lấy tơ ,các thợ Ươm sẽ nấu kén trong nước nóng và kéo các sợi tơ từ trong cái kén ra,khi đã hết tơ ta sẽ có được con Nhộng là hóa thân của con Tằm.
Đây là một loại thức ăn rất bổ dưỡng.Điều đặc biệt là nếu không “Chết” thì Nhộng sẽ hóa thân thành Bướm rồi ngài có cánh.Con ngài cắn tổ kén chui ra ngoài. Người nuôi tằm đặt con ngài cái trên tờ giấy bản rồi úp một chiếc chén để giữ nó chỉ đi lại trong vòng cái chén. Con ngài đẻ trứng trong vòng chén được úp. Trứng lại nở ra tằm. Đời sống con tằm đã đi qua một vòng như thế…(Tằm là một loài côn trùng biến thái hòan tòan,vòng đời trải qua 4 giai đoạn phát dục: Trứng, tằm, nhộng (kén),bướm(ngài).)

Lụa tơ tằm là một chất liệu tao nhã,quí phái và cực kỳ sang trọng, những ngày nắng mặc đồ lụa tơ tằm rất mát, ngược lại mùa lạnh thì mặc rất ấm ,hút ẩm rất tốt và khi mặc vào người, sự mềm mại thướt tha của lụa tơ tằm càng tôn vẽ đẹp của người phụ nữ lên bội phần…những tính chất kết hợp đó khiến tơ tằm trở thành một sản phẩm rất được phụ nữ trên khắp thế giới ưa thích

Khi tằm chín,bụng chứa đầy tơ,vàng ươm lại là một vị thuốc bổ khí,bổ huyết vô cùng quý giá.
Chẳng may tằm bị một loại khuẩn làm cho chết cứng, có màu trắng như vôi sẽ được gọi là bạch cương tàm (Bombyx cum Botryte) được dùng trị bệnh đau đầu, chóng mặt, sốt cao, thần kinh co giật, trẻ con khóc đêm, mất tiếng, hoặc được dùng trị bệnh liệt dương,băng huyết, khí hư bạch đới. Ngài của con tằm đực còn được dùng làm vị thuốc bổ thận tráng dương.
Ngoài ra phân của tằm cũng là vị thuốc, được gọi là tàm sa…

Hình ảnh
Nong Tằm

Trải qua một cuộc bể dâu…

Cây dâu ưa khí hậu mát và khoẻ nên mọc được ở nhiều vùng đất, mọc nhiều ở vùng nhiệt đới,là cây lâu năm thân gỗ, sống lâu năm, tuổi thọ 8-12 năm, cho năng suất từ năm thứ 2 đến năm thứ 8.
Cây dâu người xưa gọi là Tang, cho nên nghề trồng dâu, nuôi tằm, dệt lụa còn gọi là nghề tằm tang.
Sự phổ biến của cây dâu có thể được thấy qua văn thơ để chỉ sự thay đổi của thế sự,đất trời hay không có gì là tồn tại vĩnh viễn cả trên thế gian này .
Thần tiên truyện có viết: “tam thập niên vi nhất, thương hải biến vi tang điền,tang điền biến vi thương hải”
Nghĩa là cứ ba mươi năm một lần vũ trụ lại chuyển hóa, biển cả hóa thành nương dâu, nương dâu hóa thành biển cả .

Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du thì :
“Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng…”


- Lụa Tân Châu nổi tiếng bởi dệt bằng sợi tơ tằm, hoa văn đẹp, màu sắc không phai, tạo ra được cuộn tơ vàng óng ả, những người thợ dệt Tân Châu phải hết sức nhọc nhằn và nắm vững các bí quyết của nghề trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ, dệt và nhượm lụa. Thật sự là nghề cha truyền con nối qua nhiều thế hệ.
- Từ những bãi đất pha cát ven sông vào đồng ruộng là một màu xanh trải rộng và dài từ làng này sang làng khác, thành những ruộng dâu xanh ngát đến mênh mông. Bụi dâu cao quá đầu người, lá mơn mởn, xấp xỉ bàng tay to xòe rộng. Cho tằm ăn người ta không phải hái từng lá như cung cách Quảng Nam hay Chương Mỹ ( Hà Đông). Mà người ta đẳn dâu sát gốc, bó từng ôm lớn, vác xuống ghe chở về bến. Ấy là lúc tằm chín rộ, tằm ăn lên. Xắt dâu bằng con dao to bản hơn 1 tấc, dài sáu bảy mươi phân, gọi là “dao dâu”. Dao dâu bén ngót như gươm, con dao to như thế, bén như thế mới đủ sức xắt lá thành từng sợi cho tằm ăn trong những ngày tằm chín.

Ngoài ra,cây dâu còn có những giá trị về mặt dược lý rất to lớn và giá trị đối với con người.
Theo Bs. Hoàng Quốc Chính Hội Đông y tỉnh Bình Phước cây dâu cho tới 7 vị thuốc quý để chữa bệnh cho người, đó là:
●Lá cây dâu (Tang diệp)
- Chữa chảy máu cam ,nôn ra máu, trẻ em đổ mồ hôi trộm
●Cành cây dâu (Tang chi)
- chữa phong thấp, đau lưng nhức mỏi, đau khớp xương.
●Vỏ rễ cây dâu, (Tang bạch bì)
Chữa các chứng bệnh ho khan, ho ra máu, phù thũng,cao huyết áp.
●Cây tầm gửi trên cây dâu, (Tang kí sinh). Đây là vị thuốc đầu bảng để chữa phong thấp, nhức mỏi của Đông y trong bài “Độc hoạt kí sinh thang”
●Tổ bọ ngựa làm trên cây dâu, (Tang phiêu tiêu).
có tác dụng bổ thận, cố tinh, sáp niệu.
●Trái dâu chín, (Tang thầm) có tác dụng bổ thận và làm cho tóc chậm bạc.
●Sâu dâu, là loài sâu đục thân, thường nằm trong thân cây ở đoạn gốc. Bắt sâu dâu nướng cho trẻ em ăn, có tác dụng trị được bệnh đái dầm và chứng nghiến răng khi ngủ…

Hình ảnh
Ruộng Dâu

Lụa nào đẹp bằng lụa Tân Châu…

Làng lụa Tân Châu đã đi vào câu ca Nam Bộ:
"Trai nào bằng trai hai huyện
Tháng ngày dệt lụa trồng dâu
Gái nào thảo bằng gái Tân Châu
Thờ cha kính mẹ quản đâu nhọc nhằn"


Hay bằng ca dao:
-Dốc nào cao bằng dốc Ông Két,
Lụa nào đẹp bằng lụa Tân Châu.
Tiếng đồn em bậu bấy lâu,
Anh thưa cha mẹ đem trầu cau qua.

-Bên nàng mặc lãnh Mỹ A
Đưa đò sang chợ, tưởng xa hóa gần.

-Sáng trăng trải chiếu hai hàng
Bên anh đọc sách, bên nàng quay tơ
Quay tơ phải giữ mối tơ
Dẫu năm bảy mối cũng chờ mối anh...


Khi đánh chiếm Nam Kỳ, người Pháp chọn Quận Tân Châu làm trọng điểm để thực hiện kế hoạch phát triển nghề tằm tơ trên cả Nam Kỳ để cung cấp tơ tằm cho chính quốc. Viện Tằm tơ thành lập ở Tân Châu vào tháng 7-1908. Tân Châu là trung tâm sản xuất và buôn bán tằm tơ nổi tiếng ở Nam Kỳ và Cam-pu-chia lúc bấy giờ.

Theo Namkyluctinh.org, Ông Bùi Quang Chiêu (1873-1945) là kỹ sư canh nông đầu tiên của Nam Kỳ (1897) là con của ông Bùi Quang Đại và bà Phan Thị Tuân. Người làng Đa Phúc vào cuối thế kỷ 19 (đầu thế kỷ 20), đổi lại thành Đại Điền, quận Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre.
Thuở nhỏ, Ông Chiêu theo học trường làng ở Mỏ Cày, rồi lên Sài gòn, tiếp tục theo học trường Chasseloup-Laubat, được chính phủ Pháp cấp học bổng để du học bên Algérie cho đến khi đậu Tú tài toàn phần. Ông Chiêu xin học trường Thuộc địa tại Paris trong 2 năm 1894-1895, trước khi được nhận vào học viện Nông Nghiệp.

Với bằng kỹ sư Canh nông, khi hồi hương, ông Chiêu được bổ nhiệm làm Phó giám đốc Nha Canh nông ở Hà Nội. Năm sau (1907), ông được chuyển về Nam làm Thanh tra nông nghiệp. Với chức vụ này, Chiêu được Toàn quyền Pháp giao quyền quản lý cơ sở tằm tơ, dệt lụa ở Tân Châu.

Năm 1913, ông Chiêu trở ra Bắc nghiên cứu vấn đề tơ lụa cho chính phủ. Về Nam lần thứ hai, ông Chiêu được chính thức bổ nhiệm làm Giám đốc cơ sở sản xuất tơ tằm Tân Châu, lợi tức mỗi năm ước chừng 4.000 đồng…

Như vậy,từ hơn trăm năm trước, nghề trồng dâu nuôi tằm ,ươm tơ dệt lụa đã được đầu tư,định hướng phát triển rất có căn cơ và quá trình không ngừng vận động,phát triển này đã mang lại nguồn kế sinh nhai cho người dân Tân Châu, tạo nên thương hiệu lụa tơ tằm Tân châu lừng lẫy khắp nơi. Hơn thế kỷ tồn tại của một làng nghề đã để lại những dấu ấn lịch sử trải qua biết bao thăng trầm, biến cố.

Từ biên giới Campuchia đến Tân Châu, Tân An, Vĩnh Hòa, Phú Lâm… đâu đâu cũng thấy bạt ngàn một màu xanh của những nương dâu , những nong tằm đang kỳ chín rộ và âm thanh của các loại khung dệt, rộn rã từ sáng sớm đến tối mịt, giờ nào cũng nghe tiếng lách cách thoi đưa…Trên bến dưới thuyền, lúc nào cũng có thương lái khắp nơi tìm đến mua lụa Tân Châu. Lụa Tân Châu bấy giờ rất được giá và được ưa chuộng trên các thị trường Campuchia, Sài Gòn, miền Trung và cả ở Pháp... Làng nghề hưng thịnh, đời sống người thợ dệt sung túc thấy rõ, diện tích trồng dâu cũng mở rộng. Nếu như, 30 năm đầu của thế kỷ XX, toàn huyện chỉ có chưa tới 2.000ha trồng dâu thì đến năm 1936 dâu đã phủ xanh hơn 10.000ha dọc theo những làng ven sông Tiền. Và Tân Châu đã trở thành trung tâm sản xuất và buôn bán tằm tơ nổi tiếng ở Nam Kỳ và Campuchia lúc bấy giờ.

Nhờ có Viện Tơ tằm này mà tằm tơ được tuyển chọn những giống tốt cho năng suất và chất lượng cao để tiến hành nhân giống, đồng thời cũng tiến hành phổ biến kỹ thuật đến người dân trong vùng. Chính quyền cũng đã miễn thuế đất cho diện tích trồng dâu và những chính sách hỗ trợ khác nữa cho người trồng dâu nuôi tằm.

Tân Châu là vùng đất cù lao có khí hậu thích hợp với việc trồng dâu nuôi tằm nên năng suất trồng dâu và chất lượng tơ nơi đây rất tốt. Thời hoàn kim của nghề tằm tang, cả quận ước chừng có 60 xưởng dệt, 120 lò ươm. Mỗi năm, Tân Châu tiêu thụ từ 4 đến 6 nghìn tấn tơ sợi. Ðầu thế kỷ 20, vùng đất Tân Châu nức tiếng với hai hãng tằm nổi tiếng. Một hãng thành lập năm 1909 tại ấp Long Hưng (xã Long Phú ngày ấy) gọi là khu Vịnh Ðồn (hay Trại Cưa) là hãng trên, cơ ngơi khá đồ sộ. Hãng chuyên sản xuất giống dâu tằm thượng hạng cho cả vùng. Hãng duy trì đến khoảng năm 1946 thì nghe đâu bị sạt lở rồi bỏ dở kinh doanh. Hãng dưới thì gây dựng năm 1912, đối diện trường École Cantonale de Tân Châu trên đường Nguyễn Huệ (năm 1945 đã bị phá hủy do chiến tranh). Hãng phát triển được sáu năm thì làm ăn thất bại, nhượng lại cho Sở Canh nông Nam Kỳ, đến năm 1963 thì đổi tên thành Sở tằm tang Tân Châu. Thời đó,vùng Long Hưng có nhiều miệng lò và các xưởng dệt ngày đêm cho ra lò hàng nghìn mét lụa như: lò Út Lượng (rể là chú Út Sua nay vẫn còn xưởng dệt), lò Chín Ðởm, Chín Bốn, Bảy Ngộ, Tám Sội, Hai Ðớt. Đỗ Phước Hòa,Mười Trảng,Bầu Rao,Ba Chân,Tư Tây…và rất nhiều cơ sở khác nữa .

Năm 1962, tôi vào học lớp Năm (lớp 1 bây giờ) Trường Nam tiểu học cộng đồng Tân Châu, đối diện với Hợp Tác xã Tằm Tang và thỉnh thoảng có đi vào nơi này chơi,khoảng vài năm sau thì nơi này bỏ hoang,không còn sử dụng nữa .

Bên nàng mặc lãnh Mỹ A…

Tại sao gọi là Lãnh Mỹ A ? Tên Lãnh Mỹ A có từ bao giờ?


Những năm 30 – 40 của thế kỷ trước, ven con sông Tiền bạt ngàn bãi dâu, cả xứ nuôi tằm, ươm tơ, dệt lụa khổ chỉ khoảng bốn tấc, gọi là Cẩm Tự với kích thước rộng chỉ 0,4m khi may quần phải nối vải (ngày xưa gọi là quần lá nem) ,Khung dệt này nhỏ như khung dệt Thổ cẩm của người Chăm ở Xã Châu Phong của Tân Châu,chuyên dệt các loại khăn ,”chàng “ (còn gọi là khăn rằn phổ biến ở vùng Đồng bằng Sông Cửu Long ngày xưa) Còn vì sao gọi là Lãnh Mỹ A thì qua tìm hiểu từ những nghệ nhân cao tuổi còn lại trong nghề vẫn chưa có được câu trả lời chính xác.Tiếc là Ba tôi và những người thợ dệt,nhuộm Lãnh Mỹ A từ những ngày đầu đều đã không còn nên nguồn gốc của tên gọi này đến giờ vẫn còn trong bí ẩn!

Cần nói rõ hơn là người thợ dệt dệt lụa xong cắt thành từng đọan dài khoảng 20,7m- 20,8m gọi là Cây (hay lụa) Tơ Xuyên và được giao cho các lò nhuộm để gia công nhuộm bằng trái Mặc nưa.

Lụa Tơ Xuyên này sau khi nhuộm với nhựa trái Mặc nưa xong ra thành phẩm được gọi là Lãnh Mỹ A có màu đen tuyền óng ả rất bền chắc ,càng mặc càng đẹp và không bao giờ phai màu .

Ta biết rằng Lãnh hay Lụa cũng đều là tên gọi của loại vải dệt từ sợi tơ Tằm có nguồn gốc tự nhiên, tuy nhiên có một điều đặc biệt là người trong nghề dệt nhuộm hay người Tân châu ta thì quen gọi là Lãnh Mỹ A,trong khi người các nơi khác thì quen gọi là Lụa Mỹ A hay lụa Tân châu (cái tên lụa Tân châu này nghe chung chung quá!)

Còn tại sao và xuất phát từ đâu có tên gọi là Tơ Xuyên và Lãnh Mỹ A và các tên này có từ khoảng thời gian nào thì các nghệ nhân như Chú Út Sua, Chú Tám Lăng đều không nhớ được!

Chú Tám Lăng (Nguyễn Văn Long) nghệ nhân còn sót lại của làng Lụa ngày xưa trước khi đam mê và gắn bó phần còn lại của đời mình với Lãnh Mỹ A ,Chú là thương lái Mặc nưa ,Chú cho biết có lẽ nghề nhuộm lãnh Mỹ A đến từ bên kia biên giới là đất nước Campuchia. Người dân làng lụa tiếp nhận công nghệ dệt lụa tơ tằm (ra cây tơ Xuyên) và nhuộm lãnh Mỹ A nhanh vì cây lụa có khổ rộng gấp đôi (nay khoảng một mét), người đầy đặn dễ may đồ, không như Cẩm Tự với khổ nhỏ. Người thợ dệt Tân Châu tìm ra sông Thu Bồn đất Quảng chọn thợ đóng khung cửi rộng hơn để dệt lãnh Mỹ A và từ bỏ công nghệ nhuộm cũ để bắt đầu nhuộm bằng trái Mặc nưa vốn có xuất xứ từ đất nước Campuchia.

Hình ảnh
Nghệ nhân Út Sua giới thiệu sản phẩm lụa Tân Châu
Hình ảnh
Cùng Chú Tám Lăng

Hình ảnh

Cả Nghệ nhân Út Sua và Nghệ nhân Tám Lăng đều cho biết ngày xưa người thợ nhuộm Campuchia cũng nhuộm bằng trái Mặc nưa nhưng có lẽ do chất lượng tơ lụa và nghề nhuộm của họ không phát triển nên chất lượng hàng hóa,sản phẩm làm ra không thể sánh được với Lãnh Mỹ A Tân châu dù người thợ Tân Châu học nghề nhuộm bằng trái Mặc nưa từ người Campuchia!
Trong thời kỳ hoàng kim của mình, không chỉ nổi tiếng trong nước, Lãnh Mỹ A Tân Châu còn tung hoành khắp ba nước Đông dương và xuất khẩu sang Pháp, Châu Âu…

Theo Chú Út Sua, sở dĩ ngày xưa có tên gọi là tơ Xuyên là để phân biệt với các loại tơ dệt vải ngày đó như Cẩm tự, nilon (một loại vải sợi công nghiệp),ngoài ra còn cả trong những bí quyết của nghề dệt như lựa chọn canh ,sợi tơ tằm nhuyễn để dệt nên cây lụa Tơ Xuyên…
Hình ảnh
Trước nhà Chú Út Sua

Tương tự, người thợ nhuộm gọi tên sản phẩm tơ Xuyên sau khi nhuộm ra thành phẩm là Lãnh Mỹ A để phân biệt với các sản phẩm khác như các loại hàng vải dệt bằng sợi nilon hay vải sợi công nghiệp khác…

Việc đặt một cái tên có lẽ chỉ là sự tình cờ,tự nhiên như tính tình mộc mạc,chất phác của người miền Tây,và người Tân châu ta đặt tên lụa Tơ Xuyên hay Lãnh Mỹ A có lẽ cũng giống như cha mẹ đặt tên cho con vậy,nếu ngày còn sống,cha mẹ không nói,khi đã mất rồi bây giờ có thắc mắc tại sao lại đặt tên như vậy thì chắc là không ai có thể trả lời được .

Vậy thì đành phải chấp nhận thôi!Nhưng có thể thấy là người Tân châu xưa vốn thích sự dung dị,không cầu kỳ,hay đặt tên con là Bé Hai,Bé Ba,Cu Tí,Cu Tèo,Út mót…thì cái tên Tơ Xuyên hay Mỹ A có vẽ thật mỹ miều,quí phái ,sang trọng và …đáng ngưỡng mộ…

Ta biết rằng thời ba nước Đông dương là Việt nam ,Lào và Campuchia thuộc Pháp thì việc giao thương,qua lại giữa Việt Nam ,Camphuchia rất dễ dàng .Với vị trí địa lý đặc biệt của mình Tân châu là cửa khẩu mậu dịch rất quan trọng của cả Nam kỳ với đất nước Chùa tháp và Lào, Thái Lan…và Lãnh Mỹ A Tân Châu đã ghi dấu ấn vào cuộc sống xứ này đó là vinh danh vùng đất Tân Châu một thời phong lưu tao nhã, hưng thịnh bậc nhất cùng nghề ươm tơ dệt lụa.

Trong cuốn Tân Châu 1870-1964, xuất bản năm 1966 của tác giả Nguyễn Văn Kiềm có đoạn viết: "... Giá một bó dâu lúc đó bằng một tháng lương của một tiểu công chức. Nhiều ông chủ trồng dâu, dệt lụa phát giàu ngang xương, họ vung tiền tiêu xài rất phung phí...". Còn trong cuốn hồi ký Nửa tháng trong Miền Thất Sơn, hơn nửa thế kỷ về trước của Nguyễn Văn Hầu từng có đoạn "Sau khi xem qua các xưởng dệt, lò nhuộm và ngắm xem ngút mắt những ngàn dâu xanh…"

Như vậy, những người thợ tài hoa của đất Tân Châu đã sáng tạo ra một sản phẩm “độc nhất vô nhị” với bí quyết nhuộm màu đen tuyền bằng thủ công rất độc đáo, công phu đó là “Lãnh Mỹ A“ sản phẩm một thời vang bóng của những năm 60 – 70 của thế kỷ trước.
Ban đầu lụa Tân Châu đẹp nhưng kỹ thuật nhuộm chưa đạt đến độ tinh xảo,lúc đó người thợ nhuộm lụa tơ tằm bằng vỏ già, lá chàm, đước rồi thuốc nhuộm, nhưng tất cả đều không bền, mặc một thời gian thì bị trổ (bạc màu). Cho đến khi tìm ra công nghệ nhuộm màu đen từ trái Mặc nưa, thì nghề nhuộm mới bắt đầu phát triển mạnh mẽ,những người thợ tài hoa xứ Vịnh đồn đã tìm ra bí quyết nhuộm lụa tơ tằm bằng thủ công rất độc đáo, công phu. Và cho ra đời sản phẩm một thời vang bóng – Lãnh Mỹ A Tân Châu.

Lãnh Mỹ A có độ bền tốt, có độ láng mịn, hút ẩm và luôn thoáng mát, đặc biệt, mặc càng lâu càng óng ả, và độ bền chắc vượt qua năm tháng,là ao ước và nỗi quyến rũ của biết bao phụ nữ từ bình dân đến giới thượng lưu thế kỷ trước .

Vải nilon và “hàng bay”

Có một thời kỳ đầu những năm 1960,do có những nhu cầu từ thương lái,nhất là từ thị trường Campuchia và các vùng quê xa cũng như xuất phát từ giá Lãnh Mỹ A khá cao nên những người có thu nhập thấp dù rất mê cũng không thể nào có thể sở hữu Lãnh Mỹ A chính hiệu ,thời điểm này trên thị trường xuất hiện lọai vải nilon là một sản phẩm sợi công nghiệp có độ bền cao, dai và chắc tuy nhiên không có được sự mềm mại lóng lánh và các đặc điểm ưu việt khác của Lụa Tơ Xuyên Tân châu.

Do có giá thành sản phẩm thấp hơn nên vải nilon sau khi nhuộm Mặc nưa đã một thời làm cho mặc hàng Lãnh Mỹ A phải vất vả,khốn đốn dù chất lượng sau khi nhuộm không cao,mặc vào người đi lại vải phát ra tiếng sột sọat,mình vải không thẳng và mềm mại như Lãnh Mỹ A.
Rồi có người lại sáng kiến ra “hàng bay” đó là tên gọi của vải nilon nhuộm không đúng và không đủ nước nhựa Mặc nưa dù cũng theo khá đầy đủ các công đọan khi nhuộm nên khi sản phẩm làm ra có giá bán rẻ hơn nhiều so với Lãnh Mỹ A,nhưng chỉ mặc một thời gian ngắn thì trổ màu nâu nâu và mình vải khô cứng.

Nguy hiểm hơn khi có rất nhiều người bán lẻ lợi dụng sự thiếu hiểu biết của các khách hàng thường là ở các tỉnh xa, khi đã không trung thực mà đánh lận con đen giữa hàng Lãnh Mỹ A,vải nilon nhuộm đủ nước và “hàng bay” càng làm cho giá trị và thị trường của cây Lãnh Mỹ A gặp phải rất nhiều khó khăn để tồn tại và phát triển.

NVT
Kỳ sau: CÁC GIAI ĐOẠN SẢN XUẤT LÃNH MỸ A


Sửa lần cuối bởi nguyenvanthang vào ngày 17 Tháng 2 2016, 09:51 với 4 lần sửa trong tổng số.

Đầu trang
Xem thông tin cá nhân
Tiêu đề bài viết: Re: LÃNH MỸ A TÂN CHÂU-MỘT THỜI VANG BÓNG - NVT
Gửi bàiĐã gửi: 12 Tháng 7 2012, 03:59
Ngoại tuyến
Member I
Member I

Tuổi: 27
Sinh nhật: 30-07-1990
Ngày tham gia: 01 Tháng 9 2011, 14:19
Bài viết: 22
Quốc gia: Vietnam (vn)
đây là những thông tin quan trọng cho việc nghiên cứu về một làng nghề hiện con đang có một dự án cá nhân nghên cứu vế làng nghề truyền thống này , là một người con cuả Tân Châu nên con muốn gìn giữ và phát triển làng nghề nhưng hiện tại thì chưa được một mong ước của người con Tân Châu và của một người lam văn hóa.


Đầu trang
Xem thông tin cá nhân
Tiêu đề bài viết: Dạ Lý - Re: LÃNH MỸ A TÂN CHÂU-MỘT THỜI VANG BÓNG - NVT
Gửi bàiĐã gửi: 12 Tháng 7 2012, 20:06
Ngoại tuyến
Super Member
Super Member

Tuổi: 57
Sinh nhật: 00-00-1960
Ngày tham gia: 12 Tháng 7 2011, 11:05
Bài viết: 938
Anh Thắng ơi, sorry vì lâu rồi không liên lạc với anh. Đọc bài viết này phải viết " Re. " thôi.
Sáng nay coi tin tức thấy có chương trình này ở trên TiVi đài Cần Thơ. Nên vào Google tìm, hên ghê lại thấy có, nên post lên trước. Còn bây giờ em phải đi làm, em sẽ viết thêm vài dòng với anh.




Đầu trang
Xem thông tin cá nhân
Tiêu đề bài viết: NVT - Re: LÃNH MỸ A TÂN CHÂU-MỘT THỜI VANG BÓNG
Gửi bàiĐã gửi: 12 Tháng 7 2012, 21:29
Ngoại tuyến
Super Member
Super Member

Tuổi: 60
Sinh nhật: 24-11-1957
Ngày tham gia: 29 Tháng 6 2012, 12:52
Bài viết: 377
Quốc gia: Vietnam (vn)

Người tạo chủ đề
I.CÁC GIAI ĐOẠN SẢN XUẤT LÃNH MỸ A:
(Trong phần này có sử dụng tư liệu từ internet rất tiếc trong quá trình soạn đã lạc mất nguồn)
1. Nuôi Tằm:
Ấp trứng: Giai đoạn đầu tiên của quá trình sản xuất tơ lụa là đẻ và ấp trứng Tằm, trong một môi trường được kiểm soát chẳng hạn như một hộp nhôm đã được kiểm tra để đảm bảo không lây nhiễm bệnh, dân gian ta thì dùng một cái bát úp trên một tờ giấy bản, con ngài cái đẻ một lần 300 đến 400 trứng.

Hình ảnh
Con ngài đẻ trứng

Trong một diện tích nhỏ cở 0.3mx0.4m, 100 con ngài sẽ đẻ khoảng 40.000 trứng, kích thước của mỗi trứng bằng đầu kim, có hình bầu dục, nhỏ dẹt, vỏ cứng, màu trắng sữa, hoặc hơi vàng, trên vỏ trứng có nhiều lỗ khí. Khi ngài đẻ xong thì cánh xơ xác, mệt mỏi, phấn trôi khỏi mình Con ngài cái chết gần như ngay lập tức sau khi đẻ trứng và con ngài đực cũng chỉ sống được thêm một thời gian ngắn sau đó. Con ngài có phần miệng bị thoái hóa, nó không ăn được trong thời gian trưởng thành ngắn ngủi của mình.

Màu sắc trứng thay đổi theo giống tằm và thời gian phát dục: Giống độc hệ và lưỡng hệ kén trắng, khi mới đẻ, trứng có màu vàng đậm. Trong quá trình phát dục của trứng, màu sắc của trứng biến đổi như sau: Giống độc hệ và lưỡng hệ (trứng có nghỉ đông) trứng chuyển từ màu trắng sang màu hồng (sau đẻ 36-48 giờ), rồi chuyển sang màu nâu đậm hay còn gọi là màu đen (sau đẻ 72 giờ). Khi trứng chuyển sang màu nâu đậm thì trứng bắt đầu đi vào thời kỳ nghỉ đông và màu nâu đậm được duy trì trong suốt quá trình nghỉ đông của trứng. Người ta ứng dụng quá trình nghỉ đông của trứng để vận chuyển. Giống đa hệ (trứng không nghỉ đông) thì trứng chuyển từ màu vàng sang điểm đen (trên bề mặt trứng xuất hiện một điểm đen) sau khi đẻ 5-6 ngày, và cuối cùng toàn bộ bề mặt trứng có màu xanh xám (sau khi đẻ 9 ngày) gọi là trứng ghim.

Những quả trứng nhỏ bé của con ngài được ấp cho đến khi nở thành ấu trùng (con tằm). Trứng tằm muốn nở đều, tập trung, cần ấp nhiệt độ 25-26oC, ẩm độ 80-90%, ánh sáng tự nhiên. Chừng mười ngày sau, trứng tằm đổi từ màu trắng sang màu đen.Khi trứng ghim, cần bảo quản tối hoàn toàn 01 ngày để khi được tiếp xúc ánh sáng tằm nở đều. Độ 3, 4 ngày sau nữa, nở thành những con sâu nhỏ bằng đầu tăm, lớn bằng tăm xỉa răng, dài chừng1/2 cm, giống như đám sâu lúc nhúc có màu xanh xám đậm hay màu đen, có lông, có chân, có đầu, có miệng và có răng.

Giai đoạn cho tằm ăn
Tằm nở ngày nào được nuôi riêng ngày ấy, trong thời gian đó chúng ngủ và lột xác bốn lần, mỗi lần được định danh thêm 1 tuổi.

Sau khi nở, tằm được đặt trong một lớp đệm như nong nia và ăn một số lượng lớn lá dâu non hay bánh tẻ, dùng dao sắc thái thật nhỏ như thái thuốc lào rồi rắc nhẹ lên mình tằm. Khi nào tằm ăn hết thì lại rắc ngay lớp khác, suốt ngày đêm chia khoảng 10 bữa. Lá dâu phải sạch, không được trồng gần ruộng trồng thuốc lào, ớt hay cây trồng khác mà có hơi mùi thuốc trừ sâu là coi như lá dâu ấy vứt. Tằm cũng có thể ăn Osage màu da cam là một cây họ dâu tằm hoặc rau diếp tuy nhiên tằm ăn lá dâu tằm sản xuất tơ tằm tốt nhất, màu tơ đẹp nhất. Mỗi ngày còn phải vệ sinh, thay tằm. Vì chỗ tằm ăn còn lại những xơ lá và phân tằm; phải giỡ tằm đem sang nong khác, rồi bỏ chỗ xơ lá và phân tằm đi, thứ này làm đồ bón cây tốt. Nuôi tằm vất vả ngày đêm, vì vậy dân gian xưa có câu: “Làm ruộng ăn cơm nằm, nuôi tằm ăn cơm đứng”.

Tằm ăn như vậy bốn ngày thì mình vàng ra, nằm yên không ăn nữa gọi là tằm ngủ. Khi 90% tằm ngủ thì người nuôi tằm ngừng cho ăn. Tằm chuẩn bị ngủ, có màu bóng vàng, ăn ít dâu.
Trong khi tằm ngủ, cần yên tĩnh, ánh sáng yếu, tránh gió lùa và động mạnh vào nong, đũi.

Hình ảnh

Tằm ngủ, ngưng ăn dâu, ít động đậy, đầu ngẩng cao, sau 20-24 giờ tuỳ theo mùa, lột xác, chuyển sang tuổi sau, tằm dậy. Tằm lột lớp da đen sì đầu tiên, trở nên màu xanh rất nhạt và lại bắt đầu ăn trở lại. Tằm dậy 95% thì cho ăn lại, bữa đầu tiên cho ăn lá dâu tươi, thái nhỏ hơn bữa thứ 2 trở đi.Lúc này vẫn phải thái lá dâu nhưng thái hơi lớn cũng được. Sau bốn ngày nữa, lại ngủ, lại lột da, lại dậy ăn trở lại; lần này màu da xanh thêm và nhẵn chứ không có lông nữa. Lại ăn lại ngủ cùng thời gian như trước. Tức là ngủ ba lần rồi dậy ăn. Nuôi tằm con tuổi 1,2,3 có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả nuôi tằm lớn tuổi 4,5. Tằm lên hai, dài cỡ 1cm. Tằm lên ba, 1,5cm. Tằm lên bốn, cỡ 3cm, còn màu xanh xám; Tằm lên năm, trong thời kỳ ăn rỗi, cơ thể tằm lớn lên rất nhanh, 8,000 - 10,000 lần so với tằm mới nở, bằng đầu đũa ăn cơm, dài chừng 4,5cm.
Tằm tuổi 4 ăn 10%, tuổi 5 ăn 80% lượng dâu của cả lứa. Tính trung bình, tằm sẽ ăn nguyên liệu thực vật gấp 50.000 lần trọng lượng ban đầu. Thời kỳ này, tằm bài tiết nhiều, sức đề kháng yếu dễ bị măc bệnh.

Khi đến lần ngủ thứ tư, và cũng là lần cuối cùng trong đời tằm, rồi trở dậy thì tằm lớn gần bằng ngón tay út, lần này gọi là tằm ăn rỗi. Lúc này thì rắc cả lá dâu hoặc cả cành nhỏ cũng không sao, tằm ăn rất nhanh, rất khỏe. Người nuôi tằm chạy dâu bở hơi tai! Cả ngày cả đêm ăn đến 15, 16 bữa. Mỗi ngày phải thay tằm hai lần. Bận rộn nhất là thời kỳ này. Trong nhà tằm lúc nào cũng nghe tiếng rì rào vì hàng trăm răng tằm nghiến vào lá dâu. Tằm trở nên màu xanh lục thẫm rất đẹp, da căng bóng.

Hình ảnh

Tằm con có khả năng chịu được nhiệt độ cao, ẩm độ cao hơn tằm lớn và sinh lý cũng khác tằm lớn nên cần được chăm sóc chu đáo. Ngừng cho ăn dâu quá sớm trước khi ngủ, cho tằm ăn quá muộn sau khi dậy đều làm cho tằm đói, cơ thể suy nhược, tạo điều kiện cho bệnh phát triển.Tằm lớn cần nuôi dưỡng trong môi trường thông thoáng, không khí luân chuyển, trong sạch, tránh gió lùa mạnh và ánh sáng trực xạ.

Trong khoảng sáu tuần tằm ăn gần như liên tục. Sau khi phát triển đến kích thước tối đa của nó trong khoảng 6 tuần, nó dừng ăn, thay đổi màu sắc, và nặng hơn khoảng 10.000 lần khi nó nở. Tuổi 5 cho tằm ăn dâu đầy đủ, sau 6-8 ngày tằm chín. Tằm chín da láng bóng, tằm ngưng ăn dâu, có xu hướng bò đi tìm nơi thích hợp làm tổ. Khi có ít nhất 1/3 cơ thể con tằm có màu trong suốt là thời điểm tằm đã sẵn sàng để đóng kén.

Ngày tôi còn nhỏ,nhà tôi có một thời gian nuôi tằm,tôi nhớ nhất là mỗi khi tằm ăn dâu,Tằm ăn ghê lắm ,tiếng nhai của con vật bé tí như vậy nhưng do có hàng trăm ,hàng ngàn hàm răng cùng nghiến nên tiếng Tằm ăn dâu nghe rào rào như mưa rơi trên mái lá !

Đóng kén

Hình ảnh

Khi tằm chín vàng, được bắt lên né đóng kén, phải thật nhanh tay để tằm tránh khỏi cay mắt.
Né là tấm phên đan bằng tre, có những lỗ hổng vuông rộng mỗi bề độ mười phân. Nhặt tằm đã chín bỏ vào né, đem để ra chỗ hơi có ánh nắng. Khi tằm đang đóng kén, người nuôi phải “hong nắng” và “sưng sấy” sao cho kén khô, thơm để khi ươm tơ kén không bị tan, cho sợi tơ vàng óng, thuận lợi cho người ươm tơ.Thiếu ánh nắng, tằm làm kén không được đẹp, vì trước khi nhả tơ làm kén, tằm... đi tiểu lần đầu và là lần cuối trong đời tằm rồi mới bắt đầu làm kén. Ánh nắng nhẹ làm khô nước tiểu tằm và kén sẽ có màu vàng đỏ rất đẹp; trái lại nếu tằm chín phải ngày mưa, phải để né ở trong nhà thì kén có màu không được tươi, vì chất nước tiểu tằm thấm vào kén. Nhưng cũng chỉ canh để cho ánh nắng nhẹ thôi, nắng nóng tằm cũng chết mà không làm kén được.

Hình ảnh

Tằm tự gắn nó trên né để nhả tơ đóng kén trong khoảng thời gian 3-8 ngày.Tằm có một cặp tuyến nước bọt đặc biệt được sử dụng cho việc sản xuất tơ, chất lỏng protein trong suốt, nhớt được tiết ra qua các lỗ hở gọi là lỗ nhả tơ trên phần miệng của con tằm.

Đường kính của lỗ nhả tơ xác định độ dày của sợi tơ, được nhả thành một sợi dài liên tục. Chất lỏng đông cứng lại khi tiếp xúc với không khí và tạo thành một cặp sợi tơ protein. Các tuyến tiết ra một cặp một chất lỏng thứ hai gọi là sericin, một dạng sáp kết hai sợi tơ với nhau, bảo vệ sợi tơ và kén tằm.

Đều đặn trong vòng bốn ngày liên tiếp, con tằm xoay cơ thể của nó trong một chuyển động hình số 8 khoảng 300.000 lần, xây dựng nên một cái kén và nhả ra khoảng một km sợi tơ rồi hoá nhộng hoàn toàn. Cái kén tằm được tạo ra để giúp con tằm chống đỡ ngoại cảnh bên ngoài và kẻ thù tự nhiên.Tằm cả đời chỉ vất vả chăm lo cho việc ăn của mình, kế đó là làm sao có được cái tổ kén vàng bền đẹp, bên ngoài là các sợi tơ óng mượt, bên trong là một lớp vỏ mịn màng và không kém phần bền chắc, để rồi đến cuối của vòng đời, tằm sẽ yên nghỉ một cách bình an trong đó, kệ cho tạo hóa xoay vần “thành nhộng”. Cả vòng đời của tằm vất vả như thế đó. Khi tằm chín vàng bắt đầu làm kén thì nó tròn và dài độ bằng ngón tay út. Khi nó làm kén xong thì tằm thu hình lại, ngắn còn bằng nửa ngón út, lột lớp da tằm ra trở thành con nhộng, mình tròn mập, thon hai đầu, không cánh không chân không mắt, chịu nằm tù trong kén.

Hình ảnh

Hình ảnh

Kén có hai màu: trắng và vàng là do hai giống tằm khác nhau đóng kén cho màu khác nhau. Giống tằm kén trắng cho sợi tơ dài hơn, mỗi kén kéo được khoảng 700 mét tơ, năng suất cao hơn nhưng không chịu được nhiệt độ mùa hè Việt nam. Giống tằm kén vàng là giống tằm truyền thống của người Việt, cho màu đẹp nhưng năng suất thấp hơn, mỗi kén chỉ được khoảng 300 mét tơ.

Lúc này người nuôi tằm gỡ kén, kết hợp phân loại sơ bộ. Hầu hết sẽ được đưa đi ươm tơ ngoại trừ một ít kén to, đều được lựa chọn riêng ra để làm giống cho lứa sau. Kén nào nhỏ mà nhọn đầu là kén đực, tròn mà đầy đặn là kén cái. Độ 12, 13 ngày sau, kể từ khi tằm chín bắt đầu nhả tơ và làm thành kén thì nhộng biến thành con ngài, ở trong cái kén được lựa làm giống, cắn thủng một đầu kén và chui ra ngoài. Con ngài màu hơi trắng ngà, giống con bướm có bốn cánh, nhưng cánh ngắn và nhỏ hơn cánh bướm, xòe ra hai bên, giữa là khúc mình tròn mập, thon hai đầu, ngắn bằng nửa ngón tay út, cánh và mình dính đầy phấn màu ngà. Con đực và con cái tìm nhau để giao phối. Ngài cái được đặt vào nơi để đẻ trứng và chết.Một vòng quay mới lại bắt đầu với chu kỳ đẻ trứng, trứng nở ra con tằm và rồi lại nhả tơ, đóng kén, hóa nhộng, thành ngài…
Phân tằm và dâu vụn còn lại trong nong không phải bỏ đi mà người ta đổ vào hố đất dự trữ làm phân bón rất tuyệt vời.

2.Ươm tơ:
+ Lò Ươm:
- Nơi nấu cái kén và kéo sợi tơ từ kén,sau đó sợi tơ trải qua nhiều công đọan nữa để thành tơ thành phẩm và được giao cho các xưởng dệt đễ dệt thành hàng .

Các lò ươm ngày xưa thường xây dựng cạnh bờ sông,mỗi lò Ươm có nhiều miệng lò và bên trên là các chảo gang có đường kính lớn (khoảng 6 đến 8 tấc) để nấu Kén và các trang bị khác như xa để kéo kén và các ống để cuộn sợi tơ vào.

Sợi tơ tằm (tơ đơn) là sợi tạo nên kén tằm, nó gồm 2 sợi nhỏ tiết ra từ cặp tuyến tơ của tằm chín và dán chặt vào nhau, được bao phủ bởi 1 lớp keo (sericin - có thể biến động từ 28-30% tuỳ theo giống tằm, nó làm cho sợi to thô ráp và cứng, khi kéo tơ người ta sẽ tẩy sạch đi).

Quy trình ươm tơ rất đơn giản nhưng đòi hỏi sự khéo léo tỉ mỉ. Nguyên liệu để ươm tơ là kén tằm với 2 loại: kén vàng dệt ra lụa có màu vàng óng ả và kén trắng dệt ra lụa màu trắng rất đẹp. Kén trắng có giá thành cao hơn, được ưa chuộng hơn. Ngày xưa đa phần lụa Mỹ A Tân châu chỉ dùng loại kén vàng thôi.

Để lấy ra sợi tơ tằm ,người ta đưa kén vào các lò Ươm . Kén để ươm tơ được dàn đều trên nong để loại tiếp những kén bẩn, mỏng, thối, thủng đầu... Dụng cụ đựng phải cứng để kén nhộng không bị dập nát trong quá trình vận chuyển.

Kén tằm có phẩm chất tốt không nhất thiết phải có kích thước lớn mà cần mẩy, nhiều tơ, ít áo kén, dễ kéo tơ và kén phải đồng dạng về hình dạng và kích thước.

Từ khi bắt tằm chín lên né, độ hai ngày sau thì bắt đầu ươm tơ. Phải ươm trong vòng độ 10, 12 ngày là phải xong hết các kén đã đóng; nếu chậm, ngài cắn kén chui ra là coi như mất hết, không ươm được tơ nữa vì sợi tơ bị cắn đứt.

Hình ảnh

Ươm tơ, là quy trình gia công kéo sợi tơ từ kén tằm thành sợi tơ tằm. Trong quy trình ươm tơ, người ta đem kén tằm nấu trong nước sôi, làm cho lớp keo tơ secirine tan ra một phần, kén mềm và dễ dàng rút thành sợi. Khởi đầu, người thợ ươm thả những cái kén vào chảo miệng rộng, đảo kén bằng đôi đủa tre to thành từng nhóm nổi trên mặt nước, tìm mối tơ gốc rút ra, cho quấn vào những con suốt, hình giống như lõi ống chỉ, xếp thẳng đứng thành hàng ngang, rồi cho chạy vào những guồng tơ tròn bằng gỗ, nằm bắc ngang trên nồi nước sôi, để kéo hết tơ ở mỗi cái kén làm thành con tơ. Phần còn lại, lớp trong của kén cũng cho vào guồng ươm tơ quay vào ống lấy tơ nõn màu vàng nhạt, là sợi nhỏ phía trong của kén. Sợi tơ này gồm hai sợi nhỏ, tiết ra từ cặp tuyến tơ ở tằm chín và dán chặt vào nhau, được bao phủ bởi một lớp keo (sericin ), người ta tẩy sạch lớp keo này khi kéo tơ.

Hình ảnh

Khi kén được lấy hết tơ, những con nhộng tằm lộ ra. Nhộng tằm là món ăn ngậy, béo và bổ dưỡng rất được ưa chuộng. Cuối cùng tơ sau khi ươm sẽ được đưa vào xa đảo để tạo thành những chẻ tơ mịn màng.

Kén cắn tổ, không thể ươm tơ thì được kéo thành sợi đũi. Sau đây là cách kéo sợi đũi trong dân gian Việt nam:” Kén đem ngâm vào nước 3 giờ, vắt sạch nước, nước ngâm và vắt từ nước kén ra gọi là nước cốt, nước này phải giữ lại để sau ngâm kén lần nữa. Bỏ kén vào nồi đun sôi vài phút, thấy kén thâm đều là được. Kén luộc xong, vắt kiệt nước thả vào nồi nước cốt, ngâm một đêm thì kén chín, kén chín vừa kéo trơn và nhẹ tay. Kén sống rất khó kéo và rất nặng tay, kén chín quá thì sợi nẫu ra thành một cái búi rác, không kéo được. Người kéo sợi ngồi trên ghế sợi và thấp. Trước một cái chậu sành đầy nước và kén, hai tay ngâm trong nước để kéo sợi. Kéo sợi không dùng một công cụ trung gian nào dù đơn giản như đôi đũa, một tay giữ kén, một tay kéo, thuận tay nào kéo tay ấy. Kéo xong một mẻ dùng giằng sợi cuộn lại thành từng con, cho lên sào phơi, mỗi con sợi tương đương một lạng. Thành phẩm này được dệt thành lụa đũi, Lụa đũi to, xốp, mềm, nhẹ. Lực lượng kéo sợi đũi thường là nữ giới. Kéo sợi trông đơn giản nhưng vất vả và khó hơn ươm tơ. Hai tay ngâm nước suốt ngày này qua ngày khác. Mùa hè nước ăn tay, phải thường xuyên xát phèn chua, mùa đông tê cóng thỉnh thoảng phải đổ thêm nước nóng, kéo sợi dọc phải tinh mắt đều tay sợi mới nuột, thợ lành nghề mới kéo được sợi dọc và để ra một thành phẩm nguời thợ không chỉ có những kỹ năng mà chứa trong đó cả cái hồn của nghệ thuật.”

Hình ảnh

Quay tơ phải giữ mối tơ
Dù năm bảy mối vẫn chờ mối anh…


Sau đó tơ nõn sẽ được se với nhau, tùy theo tính chất, số lượng sợi và vòng xoắn để mắc cửi rồi dệt thành các loại hàng vải khác nhau.

Từ khi tằm nhả tơ cho đến lúc dệt thành vải phải trải qua nhiều giai đoạn: ươm tơ, lấy tơ, nhập tơ, guồng tơ, đánh ống, mắc cửi … rồi nối cửi, rồi dệt.

Hình ảnh

Quá trình se sợi

Tơ tằm được cuộn lại thành những nén tơ hoặc ống tơ. Tùy theo chất lượng tơ, cách xử lý sợi tơ và cách xoắn sợi tơ, người ta sẽ có được những loại tơ với tên gọi và chất lượng khác nhau.
Cách gọi dân gian:
Sợi mốt: là sợi tơ to, dùng để dệt dọc để dệt không bị đứt.
Sợi mành: là sợi nhỏ, dùng để dệt ngang, lụa đều, không bị chỗ dày chỗ mỏng.
Sợi đũi: là sợi của kén cắn tổ, không ươm tơ được, xù xì, thô hơn.

Hình ảnh

Sợi đơn: là kết quả của quá trình xoắn 1 sợi tơ thô. Sợi được xoắn dạng này gọi là sợi nhiễu, mousseliness , hay là sợi the xoắn.
Sợi khổ: là sợi thu được từ quá trình xoắn hai hay nhiều sợi tơ thô. Những sợi tơ này được sử dụng để dệt ngang.
Sợi xoắn: là sợi khổ được xoắn chặt
Sợi se 2 lần: 2 hay nhiều sợi đơn được se thành một sợi sau đó chúng được chập đôi bằng quá trình xoắn ngược, phần lớn dùng để dệt dọc.

Hình ảnh

Ngày tôi còn nhỏ ,khoảng 4,5 tuổi,bến sông Vịnh đồn có rất nhiều lò ươm,mỗi lò ươm thường có từ 5 miệng lò trở lên ,tôi thường đến lò Ươm của Chú Hai Phúc cạnh bến sông liền kề bến sông nhà tôi (lúc ấy các thợ Ươm thường là phụ nữ, các cô gái chưa chồng và các cô dì luống tuổi) xem các “thợ ươm” làm việc và thỉnh thoảnh được cho một ít nhộng ăn chơi. Các Lò Ươm thường được xây dựng cạnh bờ sông và tập trung nhiều nhất là khu vực từ trường tiểu học Long Hưng đến Mương Nhỏ như các Lò Út Lượng (rể là chú Út Sua nay vẫn còn xưởng dệt), lò Chín Ðởm, Chín Bốn, Bảy Ngộ, Tám Sội, Hai Ðớt…

Nơi đây có một không khí làm việc rất nhộn nhịp và vui tươi ,các cô gái tay thoăn thoắt nắm bắt các sợi tơ được kéo ra từ cái kén nối vào các xa từ các chảo to có đường kính khoảng 0.8m ngập đầy nước sôi và cái kén ,bên dưới đáy chảo là lò lửa rừng rực kêu lách tách…

Ngày xưa Mẹ tôi thường chiên con nhộng với nước mắm ,ăn cơm rất ngon,bây giờ ở các siêu thị Sàigòn như Big C cũng thường hay có nhộng để bán,có lần tôi mua về và thử chiên nước mắm ăn với cơm,nhưng sao không thấy ngon như ngày xưa?

3. Dệt lụa:

+ Người thợ dệt Việt Nam vốn thông minh,làm việc cần cù lại có thừa sự tinh tế và lắm tài hoa đã không ngừng sáng tạo ra các sản phẩm dệt từ tơ tằm rất phong phú, đa dạng như: lụa, là, gấm, vóc, vân, the, lĩnh, băng, sa, xuyến, đoạn, nhiễu, đũi, cấp, kỳ cầu …

Làm ra đủ các thứ hàng
Hàng đơn, hàng kép dọc ngang tinh tường
Lượt, là, lĩnh, lụa, xuyến, lương
Đoạn, vân, gấm, vóc, sa, băng, kỳ cầu .

Những sản phẩm dệt và tên gọi được dệt từ sợi tơ tằm

Trước khi tìm hiểu về nghề dệt lụa,cần phân biệt các sản phẩm được dệt từ sợi tơ tằm như sau:

Những mặt hàng có nền dày gồm:

- Gấm:
Nền dày, bóng như xa tanh. Nền gấm thường có những hoa văn, chữ triện hay chữ thọ với sắc màu tươi, sặc sỡ bằng kim tuyến, ngân tuyến được dệt như thêu. Một tấm gấm thường có nhiều màu, phổ biến là năm màu: xanh, đỏ, tím, vàng,trắng hay bảy màu, gọi là gấm ngũ thể hay thất thể. Do sợi ngang ( tạo hoa nổi lên trên ) và sợi dọc ( tạo nền chìm ở dưới ) đều được nhuộm màu nên khi có ánh sáng, đứng ở mỗi góc cạnh khác nhau, ta sẽ thấy mình gấm có các màu sắc khác nhau.
Gấm có vẻ đẹp lộng lẫy, rực rỡ nên ngày xưa dân thường không được dùng, chỉ có vua, quan mặc được mà thôi.Vua mặc gấm vàng có hai rồng chầu mặt nguyệt hay hổ phù. Còn gấm may lễ phục cho các quan thường là gấm hoa tròn hay gấm hoa bạc. Có câu:” Dệt gấm, thêu hoa “
- Vân:
Là mặt hàng xếp thứ nhì sau gấm. Hàng vân có nền lụa, mỏng hơn xa tanh, bao giờ cũng có hai kiểu hoa dệt trên một tấm vân: hoa nổi và hoa chìm; Hoa nổi bóng mịn, còn hoa chìm phải đưa lên ánh sáng mới thấy được. Đó là nét độc đáo của hàng vân, nhờ có hoa thủng như vậy, nên các áo lót bên trong sẽ nổi màu lên rất đẹp khi mặc áo ngoài may bằng vân.Vân được dùng dễ may áo dài mặc vào dịp hội hè, đình đám.
Những mặt hàng dày có số lượng sợi dọc nhiều là:
- Lĩnh (lãnh):
Sợi mịn, một mặt bóng, một mặt mờ do khi dệt đưa sợi dọc lên nhiều tạo nên sự bóng loáng cho mặt hàng. Lĩnh thâm (đen ) trơn rất thông dụng, dùng may váy, quần cho phụ nữ, ngoài lĩnh trơn còn có lĩnh hoa dầy dặn, có điểm lấm tấm hoa mịn màng, kín đáo, có tên riêng là lĩnh hoa chanh, nổi tiếng nhất là lĩnh Bưởi đen nhánh, óng mượt.
- Đoạn:
Đoạn cũng được dệt theo cách thức của lĩnh, nhưng dày hơn, sợi dọc nhiều hơn cả gấm. Đặc biệt sợi dọc, sợi ngang nổi đều nhau, mịn màng, óng ả. Đoạn dùng để may áo dài cho nam giới mặc vào những dịp long trọng .Do hàng đoạn dày nên người ta thường may áo đoạn bọc lụa bên trong mặc vào mùa lạnh.
- Vóc:
Là một thứ đoạn mỏng, có hoa, dệt bằng sợi đồng màu, dùng làm tán thờ thần hay may y phục cho vua chúa, quan lại. Vóc thường đi chung với gấm: gấm vóc.
Những mặt hàng dệt thủng ( thưa ):
- The:
Sợi dệt bóng và mảnh, sợi dọc rất ít nên the thưa. Dệt the là bố trí các sợi dọc và ngang không khít nhau, tạo nên hình thủng theo hàng ngang. The có nhiều loại: the đơn ( mỏng ), the kép ( dầy ), và the hoa. The được nhuộm thâm để may áo mặc bên ngoài, hay chuội cho trắng để mặc mùa nóng, nổi tiếng nhất là the La Cả.
Đối với dân thường, áo the được coi là sang nhất và rất phổ biến. Những hàng the dùng may y phục tế lễ gọi là hàng địa, thường có hoa văn đặc biệt như: song hạc, hổ phù, thủy ba gợn sóng
Sa, xuyến, băng cũng tựa như the, là các loại hàng mỏng, bóng và bền: vì khi giặt không bị xô dạt sợi, dù mỗi mặt hàng mỗi vẻ khác nhau
- Sa:
Sa được dệt rất mỏng nên trong suốt, tạo nên những đường vân óng ánh rất đẹp nếu mặc áo trong màu trắng. Sa mỏng và mát nên thường được mặc vào mùa hè.
Có sa đơn và xa hoa. Xa hoa có nhiều loại: đặc biệt là sa thất thể và sa cung đình (dùng may áo long bào cho vua mặc vào mùa nóng ).
- Xuyến (quyến):
Xuyến như sa, có cát nổi ngang, mỏng hơn the trơn và thoáng trông tựa mành mành do sợi dầy xen lẫn sợi thưa. Xuyến mắc hơn the.
- Băng:
Cũng là mặt hàng thủng, trong suốt, có hoa lác đác, nhẹ hơn the.
- Cấp:
Mỏng gần giống như the, lượt và thường có hoa.
- Lượt:
Mặt hàng dệt thưa, mỏng, mịn, rất mềm, dùng may khăn, áo.
- Lương:
Có lương đơn và kép, dùng để may áo dài, làm khăn.

Các sản phẩm dệt khác:

- Lụa:
Có hai loại: lụa trơn và lụa hoa , dệt bằng tơ nõn sao cho sợi dọc và sợi ngang khít với nhau, tạo nên vẻ mịn màng, óng ả và độ dày vừa phải.
- Là:
Cùng họ với lụa, dệt bằng tơ nõn, có những đường dọc nhỏ đều, thường được dùng làm khăn màu hay nhuộm màu để làm các phần đổi màu trong y phục.
- Nhiễu:
Là thứ lụa dệt bằng sợi đã se nên mặt nổi cát như hàng crêpe ngày nay, dùng làm khăn.
- Kỳ cầu:
Là thứ lụa bóng có hoa nhỏ, nền mịn và đều.
- Đũi:
Được dệt từ tơ trong cùng của kén tằm, hơi thô, cũng dày và bền như nái, nhưng mềm và mịn hơn. Đũi nguyên thủy óng màu vàng chín của kén tằm. Đũi thì có loại trơn, loại hoa và đũi thọ hỉ. Đũi mộc mạc, thoáng, mát mùa hè, ấm áp mùa đông, dùng may quần, áo và thắt lưng.
- Sồi (chồi):
Dệt bằng tơ gốc, thường dùng may yếm, khố, bao …
- Nái:
Được dệt bằng sợi kéo từ vỏ kén bên ngoài nên thớ to, có nhiều lông và cục sần, thường có màu vàng đậm, cứng nhưng rất bền. Nái dùng làm khăn, may thắt lưng …

Các sản phẩm vải lụa tơ tằm hiện đại

Ngày nay với kỹ thuật dệt tiên tiến và các kỹ thuật mới giúp khắc phục được khuyết điểm dễ nhăn, dễ hỏng của tơ tằm, người ta sản xuất nhiều loại vải lụa tơ tằm khác nhau, thỏa mãn tất cả yêu cầu của các lọai trang phục cho mọi người mọi giới,ngòai ra cũng phải kể tới lĩnh vực thiết kế thời trang đã đạt tới trình độ rất cao và thúc đẩy ngành dệt không ngừng phát triển để có thể đáp ứng nhu cầu của thời đại và khát vọng của con người với mong muốn vươn đến đỉnh cao của cái đẹp và sự hòan mỹ.

Có thể kể đến một số lọai vải lụa tơ tằm hiện đại như:

- Chiffon: lụa chiffon tơ tằm mỏng tang, trong mờ, mềm mại, có sự mềm mại, dịu dàng, ấm áp, tinh tế của tơ sợi tự nhiên. Ngoài sản phẩm thông dụng là hàng màu trơn , hiện nay có rất nhiều mặt hàng lụa chiffon in hoa văn mới lạ và đẹp mắt với nhiều kích thước, thích hợp với nhiều loại trang phục.

- Habotai:
Đục nhẹ, mỏng, nhẹ tơn, rất mềm mại và mát dịu. Rất nhẹ nhàng và tạo sự thoải mái dễ chịu cho khách khi sử dụng nên lụa Habotai cũng được dùng để may áo kiểu dùng cho mùa hè hoặc áo dây, áo ngủ .

- Satin: óng ả và mềm mại , bóng đẹp. Lụa satin tơ tằm rất nhẹ nhàng, mềm mại, rút mồ hôi, mát mẻ vào mùa hè, lại không tích điện dính sát vào người vào mùa đông.. Bên cạnh các màu trơn, lụa satin còn được in nhiều hoa văn phong phú đem lại sự lựa chọn dễ dàng cho khách hàng để may áo cưới, trang phục hàng ngày, thời trang và trang trí nội thất.

- Twill: có độ bóng vừa phải, dày dặn và độ rũ cao hơn lụa habotai mà vẫn mềm mại, mát rượi, phù hợp với mọi lứa tuổi. Tạo cảm giác nhẹ nhàng thoải mái khi mặc , không gây khó chịu, kích thích da nên thích hợp mọi trang phục thời trang.

- Organza: hơi cứng hơn Taffeta nhưng thưa và mỏng hơn và có thể nhìn xuyên suốt. Sử dụng thích hợp nhất là các sản phẩm may mặc hoặc trang trí cho áo cưới hoặc đầm dạ hội sang trọng.

- Taffeta: có độ bóng, độ cứng, “ đứng mình”, lại không bám da vào mùa đông nên phù hợp để may áo cưới, áo vest, áo khoác, váy ngắn, quần tây hay kết hợp với các loại chất liệu khác để may sản phẩm thời tr,ang công sở, dạo phố.

- Tussah: còn gọi là “Đũi thô” là sản phẩm được dệt từ những sợi tơ thô của con tằm. Đũi có bề mặt hơi khô nhưng có độ bóng nhẹ nên thích hợp cho sản phẩm áo sơ mi nam , áo vest hoặc quần tây.

- Jacquard: mềm mại, nuột nà, óng ả. Bên cạnh màu sắc tươi trẻ, đa dạng, óng ánh đặc trưng của tơ tằm, các hoa văn phong phú trong kỹ thuật dệt hoa văn chìm đem lại sự lựa chọn đa dạng cho khách hàng để may áo dài, trang phục thời trang, trang trí nội thất.

- Damash: là loại vải dày dặn, có độ mềm vừa phải, mềm mại hơn Taffeta, nhưng có độ bóng và ánh màu như satin, có nhiều kiểu hoa văn lạ thích hợp may áo vest, quần tây, áo dài, cravat…

Để có được những tấm lụa sang trọng, mềm mại, thời trang và tao nhã này ,nhân lọai đã đầu tư biết bao nhiêu công sức và thời gian,qua nhiều thế kỷ tồn tại và phát triển .Chất liệu thiên nhiên tuyệt vời này đem lại cho chúng ta nét quí phái ,sang trọng ,sự thoải mái, an toàn, dễ chịu khi sử dụng và xứng đáng để chúng ta trả giá cao để được sở hữu chúng.

(còn tiếp)


Sửa lần cuối bởi nguyenvanthang vào ngày 17 Tháng 2 2016, 09:37 với 1 lần sửa trong tổng số.

Đầu trang
Xem thông tin cá nhân
Tiêu đề bài viết: Dạ Lý - Re: LÃNH MỸ A TÂN CHÂU-MỘT THỜI VANG BÓNG - NVT
Gửi bàiĐã gửi: 14 Tháng 7 2012, 09:32
Ngoại tuyến
Super Member
Super Member

Tuổi: 57
Sinh nhật: 00-00-1960
Ngày tham gia: 12 Tháng 7 2011, 11:05
Bài viết: 938
Hello anh Thắng, em rất thích bài viết này của anh vì quá nhiều chi tiết trong nghành nghề dệt lụa Tân Châu.
Theo em, đây là một bài viết rất có giá trị - và em cảm ơn anh. Anh là một người miền Tây - ơi là miền Tây, vậy mà có Mr Doctor nào đó dám nói với anh rằng : Ông Nội, Ông Cố, Ông Sơ của anh từ miền Bắc, ( hễ mỗi lần em nhớ đến câu chuyện này là em bật cười )

Khoảng năm nào nhà anh không còn dệt Lãnh Mỹ A vậy? vì em nhớ sau 1976 em đến nhà anh thì không thấy gì cả. Nhà anh có còn hình ảnh nào của thời gian dệt lụa không? Em thì nhớ man mác cái nhà Tằm Tang hình như gần cái Bồn Nước ngang trường Nam tiểu học. Nhà Tằm Tang màu vàng vàng phải không? Còn hồi học tiểu học ở trường ngoài sân banh, em nhớ người ta mang Lãnh Mỹ A ra sân banh phơi, và nhiều khi họ đổ phơi nắng đóng trái mặc nưa, em không biết họ phơi mặc nưa để làm gì? có phải để cho khô rồi chụm lửa?
Có điều là khi mặc nưa mới đổ ra phơi, em thấy có vài đứa học trò con nít ra đó ngồi lượm hạt mặc nưa non có màu trong trong trắng trắng. Tụi học trò nhặt mang về nhà rửa sạch rồi ăn ngon lành. Vài lần em theo coi rồi cũng bắt chước lượm ăn thử, hihi. ( có lẽ vì thế mà em khó quên Tân Châu. hihi.)

Mấy năm trước em ghé qua Sydney ở Úc, có anh bạn người ở vùng Ban Mê Thuộc gọi em là " cô gái đến từ xứ mặc nưa " lúc đó em nghe, em cười quá chừng luôn, và đến bây giờ vẫn gọi em là thế.


Đầu trang
Xem thông tin cá nhân
Tiêu đề bài viết: Re: LÃNH MỸ A TÂN CHÂU-MỘT THỜI VANG BÓNG - NVT
Gửi bàiĐã gửi: 15 Tháng 7 2012, 11:19
Ngoại tuyến
Super Member
Super Member

Tuổi: 60
Sinh nhật: 24-11-1957
Ngày tham gia: 29 Tháng 6 2012, 12:52
Bài viết: 377
Quốc gia: Vietnam (vn)

Người tạo chủ đề
DL thân mến
Hôm qua anh có trả lời cho em,thức đến 2g sáng để gửi tiếp bài vì trong phần kế tiếp có chi tiết về những câu hỏi của em,hình ảnh nhiều chắc hôm nay anh Bá mới đưa lên,còn phần trả lời riêng cho em chắc anh làm sai chỗ nào đó mà sáng nay mở bài ra không thấy(là anh gửi trong Icon Pm).Em nói đúng Hợp tác xã tằm tang gần bồn nước đó ,bên trái phía trứơc là nhà đèn cũ thì phải,phía sau nhà đèn là bồn nước,dân thị xã thì phải nhớ hơn anh chứ vì anh phải xa nhà nhiều năm quá mà!Bài còn vài chỗ đáng ra phải ngâm lại vài bửa để còn tìm xem có lỗi nào không và bổ sung ,sửa chửa vài chi tiết,nhưng do em hỏi nên anh gửi luôn đó,để em đọc!
Thân chào em. NVT


Đầu trang
Xem thông tin cá nhân
Tiêu đề bài viết: NVT - Re: LÃNH MỸ A TÂN CHÂU-MỘT THỜI VANG BÓNG
Gửi bàiĐã gửi: 15 Tháng 7 2012, 11:29
Ngoại tuyến
Super Member
Super Member

Tuổi: 60
Sinh nhật: 24-11-1957
Ngày tham gia: 29 Tháng 6 2012, 12:52
Bài viết: 377
Quốc gia: Vietnam (vn)

Người tạo chủ đề
+ Xưởng Dệt :

Người thợ dệt Tân Châu đã biết tổng hợp một cách hài hòa biết bao kinh nghiệm của dân gian và học hỏi từ các làng nghề đi trước nhiều thế kỷ ở Miền Trung và Miền Bắc để sáng tạo ra lụa Tơ Xuyên và nhuộm với trái Mặc nưa thành Lãnh Mỹ A Tân Châu độc đáo, đồng thời cũng làm cho thương hiệu Lụa Tơ Xuyên Tân Châu nổi danh một thời khắp Nam Kỳ lục tỉnh thời bấy giờ .

Chuyện ngày xưa…
- Có thể xem Lò ươm và Xưởng dệt như là vợ chồng và lụa tơ xuyên là đứa con thơ xinh đẹp nỏn nà với màu vàng óng ả, lấp lánh của hạt nắng…để được trưởng thành và có thể bước ra đời vững vàng, mạnh mẽ, không ngại mưa nắng phong trần hay sự hủy họai vô hình của thời gian ,lụa Tơ Xuyên phải được trui rèn qua nhuộm với trái Mặc nưa đến bầm dập cả thân thể ,dãi nắng dầm mưa để trở thành Lãnh Mỹ A bền đẹp, cao sang và quí phái .

Vì vậy như là một sự phối ngẫu,bên cạnh các lò ươm là các Xưởng dệt,là nơi các thợ dệt dệt sợi tơ tằm thành tấm lụa bằng các khung cửi,ngày xưa người thợ dệt đạp bằng chân,trên tấm lụa được dệt thành hình các lọai bông (hay còn gọi là hoa văn),người thợ gọi tên cây lãnh Mỹ A theo tên hoa văn đó.Thí dụ như cây Bông dâu,cây Mặt đệm,cây Sọc đủa,hoặc không có hoa văn thì gọi là Cây trơn…Trong thời cực thịnh của nghề dệt lụa ươm tơ,xưởng dệt có ở khắp nơi ,ít thì vài khung cửi,nhiều thì hàng chục khung ,trong xứ Vịnh đồn đi đâu cũng nghe tiếng dệt lụa rộn rả. Những năm 60, Tân Châu có tất cả 60 nhà dệt lớn nhỏ gồm 344 khung dệt.

Trái ngược với cánh thợ ươm,các thợ dệt đều là đàn ông, nếu ở lò ươm ta thấy một không khí rất nhộn nhịp và chan hòa niềm vui vì hầu như toàn bộ thợ là phụ nữ nên thường các chị vừa làm việc vừa chuyện trò vui vẽ thì ở xưởng dệt các thợ dệt rất ít nói chuyện,họ làm việc rất tập trung và tiếng thoi tơ chạy,tiếng khung dệt hoạt động khá ầm ỉ,nếu xưởng dệt có từ hơn 3 khung dệt trở lên thì tiếng ồn khá lớn,phải nói to mới nghe được.

Ngày xưa với khung cửi dệt tay, người thợ dệt hàng "Cẩm tự" khổ hẹp kích thước chiều rộng chỉ 0,4m . Sau này người thợ dệt bằng những khung cửi dệt to cho ra sản phẩm lớn gấp đôi hàng "Cẩm tự" và tên gọi sản phẩm dệt bằng tơ tằm này là "Lụa Tơ Xuyên". Với thời gian dệt nhanh hơn, tiết kiệm được thời gian và khổ vải này khi may quần áo mặc rất thuận tiện.

Người thợ dệt dệt Lụa Tơ Xuyên có chiều rộng tấm lụa khoảng 0.9m,chiều dài khi cắt ra để đưa vào nhuộm khoảng 20.8m để khi nhuộm xong còn khoảng 20.3m, khi ra thành phẩm là lụa Mỹ A màu đen tuyền,người thợ sẽ cắt đi các đoạn đầu cuối thường bị lỗi để còn hơn 20m là được.

Như vậy,với khởi thủy ban đầu là những khung dệt thô sơ, giản đơn, rồi khung “chân dậm tay thoi”, khung “tay giật, thoi lao”, thời hưng thịnh ngành dệt đã có nhiều khung dệt khác nhau, mỗi khung cho một sản phẩm mặt hàng lụa khác nhau: hàng trơn, các lọai hoa văn như Bông dâu,Mặt đệm,Sọc đủa… để cho ra các sản phẩm từ nhiều chất liệu khác nhau đòi hỏi nhiều kỷ thuật và sự sáng tạo của người thợ dệt như lụa thường, ngang xe, hay dọc tơ chập, ngang tơ chập, dọc tơ xe…
Người thợ dệt dùng những ngón tay thanh mảnh lao chiếc thoi qua khung dệt. Rồi đến chiếc khung dùng sợi dây để giật cho con thoi lao qua rồi đến chiếc khung hôm nay, có hàng nghìn que kim tự động, cài đủ các loại hoa theo ý con người.
Thời đó,vùng Long Hưng có rất nhiều xưởng dệt ngày đêm cho ra lò hàng nghìn mét lụa như: lò Út Lượng (rể là chú Út Sua nay vẫn còn xưởng dệt), lò Chín Ðởm, Chín Bốn, Bảy Ngộ, Tám Sội,Hai Ðớt.Đỗ Phước Hòa,Mười Trảng,Bầu Rao,Ba Chân,Hai Cẩm,Tư Tây…và rất nhiều cơ sở khác nữa .

Tôi nhớ anh Nguyễn Hồng Cẩm mà tôi gọi theo vai vế là anh Hai Cẩm là nghệ nhân rất giỏi về nghề dệt ,Xưởng dệt của anh và của Chú Tư Tây ngay cạnh nhà tôi nên ngày còn nhỏ tôi thường hay vào chơi,nhưng các thợ dệt rất khó tính không như thợ ươm nên thường hay la rầy vì sợ bọn trẻ con chúng tôi phá phách làm hỏng hàng hóa ,với lại nơi đây thường rất ồn ào nên chúng tôi thỏang khi ghé vào chơi chút thôi chứ không hay la cà như ở các lò ươm .

Từ sau năm 1975, công việc ngày càng ít đi .Vì có điều kiện gần gũi nên những khi bên tách trà anh thường nói chuyện say sưa về nghề dệt,từ Nam ra Bắc với những đặc điểm kỷ thuật riêng của từng vùng miền,của từng lọai vải lụa,những trăn trỡ trong nghề trước những đổi thay của thị hiếu khách hàng và khó khăn của thị trường nguyên liệu lẫn thị trường tiêu thụ…nhưng ngày đó do không mấy quan tâm nên sau này khi những người như anh mất rồi thì thật sự là tôi rất tiếc nuối .

Vùng đất Vịnh đồn còn có một người rất nổi tiếng là Chú Trần Thế Lộc tự Bảy Phong, xuất thân là một người thợ dệt ở Long Hưng,những năm sau giải phóng chú làm ở UBQQ Tỉnh Long Châu Tiền,Phó Chủ Tịch rồi Chủ tịch UBND Tỉnh An Giang. Sau này chuyển lên Trung Ương giữ chức vụ Thứ Trưởng Bộ Nông nghiệp-Phát Triển Nông thôn-Tổng Giám đốc Vinafood…Trong khi còn làm việc ở An giang đã có những quan tâm đến việc khôi phục và xây dựng lại nghề ươm tơ dệt lụa của Tân châu đồng thời thành lập Công ty Tơ lụa Tân châu, chỉ tiếc là Công ty hoạt động không hiệu quả nên rồi cũng giải thể…

Còn một câu chuyện nữa là do gần như 90% dân Vịnh Đồn theo nghề trồng dâu nuôi tằm,ươm tơ dệt lụa,nhuộm Lãnh Mỹ A nên ngày xưa cứ mỗi lần có nhà nào tổ chức cưới hỏi cho con cái là đều che “rạp” và dùng lụa Tơ Xuyên để “bắt” bông hoa trang trí cho tiệc cưới ,màu lụa vàng óng ánh,lấp lánh trong nắng vàng thật là đẹp mắt,ban đêm đèn “Măng sông” sáng rực ,tiếng đàn hát vang xa ,rộn rả tiếng nói cười và lũ con nít chúng tôi thì được chen chân nhau để xem ca hát và “rước dâu” thật là vui làm sao!

Hình ảnh
Hình ảnh
Lụa Tơ xuyên trước khi nhuộm Mặc Nưa được kết hoa dùng trong các tiệc cưới ngày xưa!(Ảnh gia đình)

Chuyện hôm nay :
Xưởng dệt của chú Tám Lăng hiện tại có vài chục máy nhưng chỉ có 2 máy dệt lụa tơ tằm còn lại là dệt các loại vải khác như nilon,gấm,satin,…đa số thành viên là những người thân cận trong gia đình.Thợ để có thể đứng máy dệt Lãnh Mỹ A thật sự không có nhiều vì sản phẩm Lụa tơ xuyên đòi hỏi yêu cầu rất cao về chất lượng.Trong khi những nghệ nhân có tay nghề đều đã trên 40 tuổi ….

Theo chú Tám Lăng ,gia đình chú chỉ còn giữ lại mấy khung dệt lãnh Mỹ A cuối cùng của xứ Tân Châu nhưng do kinh tế khó khăn, hàng bán chậm. Xưởng của ông, nay cũng chỉ còn hai thợ lành nghề dệt lãnh, có lẽ là những người thợ cuối cùng ở xứ lụa!
Hình ảnh
Người nghệ nhân già bên khung cửi buồn quạnh quẽ!

Kể chuyện những năm trước, khi đang còn dệt lãnh, tơ Tân Châu không còn, để làm ra cây lãnh theo đơn hàng, ông phải lặn lội lên xứ Bảo Lộc, đặt những loại tơ tốt nhất, tìm đối tác mua tơ Trung Quốc. Của nội thì làm xương ngang, của ngoại tốt hơn làm xương dọc.

“Đến Tân Châu hôm nay, đi dọc con lộ dài năm cây số qua ba phường: Long Châu, Long Hưng và Long Thành – xưa là trung tâm của nghề lụa – đếm chưa được mười xưởng xe tơ. Ông Nguyễn Đức Hưng (chủ cơ sở tơ tằm Hưng Thịnh), người đã 20 năm xe tơ, kể: đã hơn hai chục năm nơi đây không còn tơ, ông lên Bảo Lộc mua tơ về xe lại thành sợi lớn hơn, sau đó bán sang thị trường Lào, Campuchia, Thái Lan. Bên đó họ chuộng vì váy xàrông – trang phục truyền thống – dệt bằng tơ Việt là đẹp”…

Chuyện về ngành dệt lụa ,ươm tơ ngày nay nếu kể lại thì rất dài và có quá nhiều nỗi niềm trăn trỡ ,thôi thì tôi xin mượn câu chuyện của anh Nguyễn Văn Đặng qua nhà báo Bảo Trị (báo Nhân dân ngày 16/12/2011) và một số bài báo khác đã có dịp về thăm và viết về nghề dệt Lãnh Mỹ A Tân châu ngày nay để kết thúc mục này vậy…

“Tằm tang là nghề của nhiều nghề, có quan hệ cộng đồng chặt chẽ và tương tác lẫn nhau. Đó là trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ, dệt lụa. Hàng vạn con người vùng đất đầu nguồn từng sống gắn bó với nghề, làm nên thương hiệu lụa Tân Châu - lãnh Mỹ A nức tiếng. Bao thế hệ đã đổ mồ hôi và cố gắng sáng tạo để làm nên danh tiếng của làng nghề này. Giờ ai còn ai mất, và mấy ai còn đang nghĩ về sự sớm suy tàn này? Được sự hướng dẫn tận tình của anh Phương, tôi tìm gặp chú Út Đặng (Nguyễn Văn Đặng hay Nguyễn Văn Trạng, 73 tuổi, ngụ phường Long Châu), một trong các thợ dệt giỏi nhất trong vùng còn sống. Thấy khách lạ, lại hỏi về nghề mà chính bản thân mình đã muốn quên đi, chú bảo: Thôi, cháu quan tâm nữa làm gì, làng nghề còn đâu, nhắc lại thêm buồn! Mấy khung cửi dẹp bỏ, có cái chụm lửa luôn rồi. Lãnh Mỹ A giờ ai mặc, nghề lụa cũng thoái trào rồi. Đôi mắt chú nhìn bâng quơ nhưng tôi biết, trong sâu thẳm trong suy tư của người thợ đã ngoài bảy mươi là cả nỗi niềm đau đáu. Trong ký ức của người thợ dệt nổi danh còn sót lại trên đất Tân Châu thì: Dạo ấy làm nghề hăng lắm. Hăng vì nhà ai cũng làm lụa, hãng nào cũng tranh thủ làm hàng ngày đêm để xuất đi Nam Vang (Cam-pu-chia), đất Xiêm (Thái-lan). Có ngày tui với đám học trò làm không ngủ, thay phiên nhau chợp mắt để đập lụa, nhuộm, bắt chỉ... Nghề dệt này cần sự tỉ mỉ và sức khỏe dẻo dai. Chệch một đường chỉ là hàng mất giá, lụa không thuần mầu là bán chẳng ra. Mười mấy công đoạn mà sót hay chệch một khâu coi như thước lụa bỏ sông bỏ biển. Vậy mà tự nhiên lụa chết dần, sau giải phóng còn dăm chục tiệm, giờ giải nghệ hết trơn. Thợ dệt giỏi cũng không còn. Nghe đâu chỗ anh Tám Lăng chỉ còn làm cho đỡ nhớ nghề. Vậy là nghề lụa coi như tiêu.

Đôi mắt tuy mờ vì thời gian, tay chân đã yếu do sức khỏe, thế nhưng khi kể về nghề lụa, chú Út Đặng dường như khỏe hẳn vừa kể vừa bày tỏ nỗi say mê…”

Hình ảnh

1.NHUỘM HÀNG :

Cây và Trái Mặc nưa:
Hình ảnh
Cây Mặc Nưa của nhà tôi đã rất già! Nghe các Thiếm tôi nói có lẻ đã 70,80 tuổi rồi!
Hình ảnh
Gốc cây rất to cả vòng ôm không giáp!

Cây Mặc Nưa có tên khoa học là Diospyros mollis Grill thuộc họ Thị (Ebenaceae)
Là loại cây gỗ nhỡ, thân thuôn, nhánh trắng hay xám ,có múi thẳng, cao từ 8 – 17m. Vỏ cây màu nâu nhạt có những nốt u nhỏ màu nâu sậm hơn. Tán lá rậm hình chóp, cành non dài mềm, hơi rũ xuống. Cây thay lá một phần.
● Hoa: Hoa màu vàng cam, đẹp.
● Quả: Quả thịt. Lúc non màu xanh vàng, lúc chín chuyển thành màu vàng rồi màu đen.Thường dùng khi quả còn tươi

Mùa ra hoa quả: từ tháng 11 đến tháng 6.
Là loại cây có nhiều ở miền Đông Dương (Campuchia, Lào, Việt Nam, Thái Lan) mọc hoang ở Ninh Thuận và cũng được trồng nhiều ở An Giang, Kiên Giang để lấy quả nhuộm ra màu đen, làm thuốc nhuộm cho Lãnh Mỹ A Tân châu.

Công dụng khác:
Có thể dùng quả tươi làm chế phẩm trị sán sơ mít, thường người ta giã tươi hạt, cho thêm nước dừa, lọc lấy nước cốt uống. Ở Thái Lan, người ta còn dùng quả còn xanh làm thuốc trị giun móc (Cây thuốc Việt Nam - Võ văn Chi)
Muốn trồng cây Mặc nưa, người ta lấy giống từ hột (hạt cứ 4-5 năm là cho trái). Tại Tân châu cây Mặc nưa được trồng nhiều ở các xã Long Sơn, Phú Thuận, Vĩnh Hoà.
Gỗ sau khi ngâm nước có thể dùng xây dựng nhà cửa, gia công các sản phẩm đồ dùng gia đình.

+ Trong giai đoạn nhuộm này người ta dùng trái Mặc nưa đã giả nát vắt lấy nước để nhuộm lãnh Mỹ A cho có màu đen tuyền.

Là loài cây thân gỗ, Mặc nưa có lá to bằng ngón chân cái, dài chừng 7-8cm, cây trồng được khoảng 3 năm thì bắt đầu cho quả, quả mặc nưa tròn có màu xanh,trái to nhất bằng ngón chân cái. Một điều khá đặc biệt là cây Mặc nưa chỉ phù hợp với những vùng đất xấu, cằn cỗi.

Trái mặc-nưa cho vào cối giã hoặc máy xây nghiền nát xong đem vào hòa với nước và nhào trộn ,ép thật kỷ để cho ra một thứ mủ đặc quánh sau đó lược và pha trộn với một lượng nước vừa đủ sẽ cho ra một chất dung dịch màu vàng sánh rất đẹp. Nhưng khi tiếp xúc với không khí và môi trường thì dần dần nó chuyển sang màu đen tuyền.Phần xác Mặc nưa (cặn bả) còn lại người thợ vớt bỏ ra ngòai để phơi khô dạng rời hoặc vo tròn to bằng trứng ngỗng phơi khô để dành dùng như củi đốt để nấu nướng .

Ngày tôi còn nhỏ,chúng tôi thường lại các đám bả (xác)Mặc nưa lựa các hạt Mặc nưa có nhân trắng để ăn ,khi nhai hơi cưng cứng và dai dai bùi bùi!Ăn thì không sao nhưng khi nhớ lại mủ Mặc nưa có khi sẽ làm răng, lưỡi đen như cây Lãnh Mỹ A thì chết! Thế là xúm lại lý sự chắc không sao đâu vì cây Lãnh phải nhuộm rất nhiều lần mới đen như vậy ,lại còn phải phơi,hồ nữa !...Thế là lại yên tâm ăn tiếp…
(Bây giờ ở cơ sở của Chú Tám Lăng,trái Mặc nưa được xay nhuyển thành bột để dùng nhuộm hàng không xay bỏ vỏ như ngày xưa.)

Trái Mặc nưa sau khi đã xay nhuyển,nát xong phải được mang hòa nước ngay thì mới bảo đảm chất lượng, bằng không, chỉ để sau vài tiếng đồng hồ ngoài không khí sẽ không dùng được nữa .
Mặc nưa là loại cây mọc rất nhiều ở Campuchia. Những năm đầu các lò nhuộm phải mua từ Campuchia cả ngàn tấn mỗi năm,còn những khi thiếu hụt nguồn cung từ Campuchia thì phải tìm mua ở các tỉnh miền Trung như Phan rang,Cà ná (Ninh Thuận)…Dần dần người dân Tân châu và nhất là Quận Phú Tân cũng trồng được rất nhiều.

Chất lượng mủ Mặc nưa quyết định đến quy trình và thời gian nhuộm vải, tỷ lệ hao hụt mủ Mặc nưa trong thời gian nhuộm vải là rất lớn: 20m vải thường uống mất ít là 100kg, nhiều thì phải là 200kg mủ.

Ngày xưa trái Mặc nưa được các thương lái chuyển bằng ghe về từ Campuchia qua đường sông.Chú Tám Lăng (Nguyễn Văn Long) nghệ nhân còn sót lại của nghề dệt nhuộm Lãnh Mỹ A khởi đầu là thương lái Mặc nưa .Chú thường ghé ghe ở bến sông nhà tôi để giao Mặc nưa và từ đây đã khởi đầu cho mối nhân duyên của Chú với con người và cái nghề mà chú đã theo đuổi cho đến ngày hôm nay.

Thường các thương lái chọn bến sông nào thuận lợi cho việc xuống hàng và vận chuyển trên bờ,nhất là gần nơi các Lò nhuộm đặt hàng nhiều nhất.

Trái Mặc nưa được cho vào các bao “bố tời” xong cân ký để giao cho các lò nhuộm ,số lượng bao và ký căn cứ vào số lượng các lò nhuộm đặt hàng từ trước,tuy nhiên rất thường khi do dư hoặc thiếu nguồn cung mà số lượng hàng được giao cho các lò thiếu hoặc nếu dư nhiều quá các thương lái thường phải năn nỉ các lò nhận thêm và ngược lại…

Trái Mặc nưa chỉ thật sự tốt khi còn xanh và đạt độ chín vừa phải,nếu chín quá sẽ không còn nhiều nhựa và chất lượng nhựa cũng không tốt vì vậy các lò nhuộm thường phải tính toán để mỗi đợt nhận trái Mặc nưa số lượng phải đủ dùng so với số lượng hàng hóa cần nhuộm và trong thời gian cần thiết,sau đó là đợt đặt hàng mới …

Lái Mặc nưa cân trái xong giao cho các “Xe lôi”vận chuyển giao hàng cho các lò nhuộm,ngày xưa nhà tôi có trồng khoảng 4,5 cây Mặc nưa ra trái rất tốt,thường Ba tôi để dành chỉ khi nào nguồn Mặc nưa từ Campuchia khan hiếm mới phải cho hái để dùng và dĩ nhiên là không thể để trái chín quá.

Hình ảnh

+ Cây lãnh,cây hàng : là tên người thợ nhuộm gọi Lãnh Mỹ A ,có kích thước dài khoảng hơn 20m,khi sử dụng có thể may được 10 quần dài dành cho Phụ nữ,dân thợ nhuộm quen gọi là cây hàng hơn (vì vậy kể từ bây giờ xin phép dùng từ “Cây hàng” cho tiện vậy).

Sở dĩ gọi là cây hàng vì thường khi giao 20.8 m lãnh Mỹ A chưa nhuộm hoặc khi đã thành phẩm,người thợ thường xếp thành một gói hàng rất đẹp kích thước chữ nhật khoảng (0.3x0.2x0.08)m (DxRxC).
Còn trong giai đoạn đập hàng (hay còn gọi là nện hàng) người thợ sẽ cuộn tròn cây hàng với lõi cây gọi là “Cây nòng” theo suốt chiều dài thành một cây tròn dài với chiều dài chính là chiều rộng của xấp Lãnh .

Qui trình tóm tắt như sau:
(Trong phạm vi bài viết này xin được trình bày sơ lược qui trình tóm tắt và giải thích một số công đọan khi nhuộm cây Lãnh Mỹ A, nếu có gì sai sót mong các anh chị em trong nghề thông cảm).
Các tên thường gọi:
+ Lò Nhuộm :
- Các cơ sở nhuộm hàng lãnh Mỹ A ngày xưa gọi là các lò nhuộm,thường các lò có nhiều thợ nhuộm và nhiều khung ,bệ đập tùy theo số lượng hàng nhuộm nhiều hay ít.
+ Tên thợ: Người ta gọi tên thợ theo công việc họ làm,thí dụ như:
- Ươm:Thợ Ươm
- Dệt : Thợ Dệt
- Nhuộm: Thợ Nhuộm

a.Nấu hàng:
Cây lãnh tơ tằm trước khi nhuộm sẽ được đem vào lò nấu (Trước đây cha tôi hay dùng loại vỏ cây nào đó mà tôi đã quên tên,sau này người ta dùng nước tro) để nấu,việc này nhằm làm sạch các chất nhờn do lớp keo sericin trong sợi tơ làm cho sợi tơ thô ráp và cứng. Vì vậy phải nấu hàng trước khi nhuộm để làm sạch và mềm tấm lụa.

b.Nhuộm hàng:
Đây là phần công việc chính xuyên suốt quá trình . Cây lãnh nấu xong đem xả nhiều lần để sạch các chất nhờn,cặn bả ,phơi khô và bắt đầu qui trình nhuộm.Mỗi đợt nhuộm số lượng cây hàng có thể từ 20 hay 30 cây tùy chủ lò ,02 người thợ gọi là cặp thợ,thường các cặp thợ là vợ chồng ,anh em hoặc bạn bè và hay có thêm một phụ việc là con,em hay cháu để giúp các việc lặt vặt hoặc học nghề.

Đây là một công việc rất nặng nhọc và lâu dài,khoảng 30 đến 45 ngày để ra thành phẩm và chia ra nhiều giai đoạn nhỏ khác còn gọi là các “Da” nghĩa là cứ sau một khoảng thời gian nhuộm Mặc nưa xem như ta đã áo bên ngoài cây hàng một lớp da vậy .Và cây hàng cần nhuộm bao nhiêu da là do người thợ quyết định căn cứ vào yêu cầu,chất lượng cây hàng.

Do lụa Mỹ A nhuộm với nhựa trái Mặc nưa có màu đen khi ra ngoài không khí nên người thợ phải thường xuyên tiếp xúc, ngâm đôi tay với nước nhựa Mặc nưa nên thường dù đã kỳ cọ,rửa ráy rất kỷ đôi cánh tay của người thợ vẫn đen ,với các thợ mới vào nghề,ban đầu còn mắc cỡ khi nghỉ ngơi,sinh hoạt ngoài xã hội với đôi bàn tay đen nhưng lâu ngày quen dần rồi cũng thấy bình thường .Vì vậy người ta quen gọi người thợ nhuộm hàng là dân “bàn tay đen”

- Dụng cụ nhuộm:
Ngày xưa cha tôi hay dùng thùng phuy đựng dầu dung tích 200 lít cưa làm đôi,sau đó gò các cạnh cho tròn để không cắt đứt hàng hoặc đứt tay người thợ khi nhuộm hàng dùng làm nơi chứa nước nhựa Mặc nưa .
Người ta đóng một cây thập giá cao khoảng một tầm với xuống đất ngoài đồng cỏ tại vị trí thuận tiện đã chọn sẳn,ở bên dưới hai đầu thập giá người ta đặt hai nửa thùng phuy đã cắt như trên để chứa nước trái mặc nưa đã xay nát dùng để nhuộm hàng .

Các công cụ phục vụ việc nhuộm (ngày trước):
Có nhiều công cụ cần phải có khi nhuộm hàng như:
Các loại cố định : Máy xay Mặc nưa,khung đập (nện) hàng , dụng cụ hồ hàng …
Các loại dụng cụ nhỏ có thể di chuyển như :Cần xé ,rỗ to,lưới lược,giá đỡ…

Máy xay Mặc nưa:
Thường bằng gang,sắt bao gồm phần vỏ bao che bên ngoài có hình tròn đứng , phía trên cùng có miệng hình phễu để đổ trái Mặc nưa vào xay,bên trong là hai má ngàm bằng gang có xẻ rảnh dùng để nghiền trái Mặc nưa ,bên dưới có miệng để Mặc nưa xay xong bị ép đẩy tuôn ra ngoài .

Máy xay được nối với máy kéo bằng dây Curoa,ngày xưa các lò nhuộm hay dùng máy nổ Yanmar của Nhật làm máy kéo.

Khung đập hay lò đập : (Đập bằng tay tôi sẽ nói sau ,ở đây nói khung đập là khi sử dụng máy đập) Bằng các thanh gỗ vuông hay chữ nhật đóng rất chắc chắn làm chân đặt trên nền sàn nhà ,có hệ thống truyền động nối với máy nổ bằng dây curoa,Cây đập có phần tiếp xúc với Cây Lãnh Mỹ A thường dùng khoảng ba dùi đập ghép lại ,di chuyển theo phương thẳng đứng từ trên xuống “đập “ vào cây hàng được đặt trên bệ đập, người thợ ngồi xếp bằng đặt cây hàng dọc theo bệ đập,khi máy đập chuyển động và cây dùi đập vào thân cây hàng người thợ phải dùng tay di chuyển cây hàng ngang dọc sang phải rồi sang trái (trong lúc di chuyển ngang dọc theo phương song song chiều dài bệ đập người thợ phải xoay tròn thân cây hàng để toàn bộ thân cây hàng đều được đập).

Khi Chú Sáu của tôi thử nghiệm và chế tạo ra khung đập hàng bằng máy ,ban đầu Ông chế tạo cặp dùi đập giống như hình dáng cặp càng cua,tức là có hai cặp dùi từ hai phía trái phải như hai càng cua luân phiên đập vào cây hàng,khi càng bên phải nhấc lên thì càng bên trái hạ xuống,và cứ như thế nhưng như vậy rất không tốt vì chuyển động hai phía như vậy khá nguy hiểm cho người thợ đập và độ chính xác của các chi tiết kỷ thuật khi phối hợp nhịp nhàng không đạt theo yêu cầu nên Ông chuyển hướng và làm khung máy đập một thân dùi di chuyển lên xuống và thành công .

Hồi nhỏ tôi nhớ có lần vào khu vực các lò bún gần bến xe Tân châu cũ và mang máng nhớ kiểu khung máy đập này khá giống với chày nện bột làm bún cũng được nâng lên rồi buông xuống …

Dụng cụ hồ hàng : Như ảnh chụp ,được đặt cố định ở một vị trí thuận lợi nhất.Ngày xưa phải quay bằng tay sau này người ta dùng moteur điện.

Cần xé: Được làm bằng tre,dùng để vận chuyển trái Mặc nưa từ ghe thương lái đến người mua(là các chủ lò nhuộm) và trong quá trình nhuộm như vận chuyển Mặc nưa đã xay xát xong đến nơi nhuộm .

Rỗ to: Cũng được làm bằng tre,với những nan tre dầy to bản, rỗ có đường kính khoảng 0.6m dùng để vận chuyển Mặc nưa và quan trọng hơn là để chà xát Mặc nưa sau khi xay xong để ép nhựa hòa hết với nước trên giá đặt trên thùng phuy .

Giá đỡ: Bằng gỗ hoặc tre giống như cái càng đặt trên thùng phuy sau đó đặt rỗ lên trên.

Lưới lược:Do Mặc nưa được xay còn to xác nên người thợ phải dùng lưới nilon để lược khi ép nhựa Mặc nưa để không rơi xuống thùng phuy chứa nước nhựa Mặc nưa.

Cha tôi thường ông hay đốn tre về để dành sẳn,khi chưa dùng thì ngâm trong hầm (ao) để tre không bị khô mục.Khi cần sử dụng mang lên phơi cho khô ráo xong Ông chẻ tre ra và dùng “mác vót” để gia công bất cứ gì ông muốn .Tất cả cần xé, rỗ to để nhuộm hàng hay rỗ nhỏ dùng trong gia đình,kể cả đũa ăn cơm đều do một tay ông làm ra!

Hình ảnh
Ảnh Vân Thủy - vietnamandyou.net

Cách nhuộm :
Người ta xay nát trái Mặc nưa (ngày xưa chưa có máy xay người thợ phải giả nát trái Mặc nưa bằng cối đá và chày bằng gỗ), nhào trộn,ép và lược lấy nước Mặc nưa chứa trong thùng phuy và thêm vào một lượng nước sạch vừa đủ tùy theo số lượng cây hàng cần nhuộm (việc này đòi hỏi người thợ nhuộm phải có kinh nghiệm để sao cho lượng nước nhựa đủ dùng trong một đợt nhuộm) sau đó người ta nhúng từng cây hàng vào nước nhựa Mặc nưa cho thấm đều rồi máng từng đoạn vải lụa lên đầu cây thập giá để vắt bớt nước xong mang ra phơi nắng ,khi cây hàng đã khô (nóng) rồi thì cuộn vào và lại nhúng vào nhựa Mặc nưa …cứ như thế công việc nhuộm cây lãnh tiếp tục cho đến khi người thợ thấy đủ nước hoặc đã hết ngày,bình quân mỗi ngày người thợ nhuộm được khỏang 4 nước là đạt yêu cầu .
(Cơ sở Chú Tám Lăng ngày nay xay nhuyển trái Mặc nưa thành bột khi nhuộm )

Khi phơi cây hàng người thợ gấp đôi cây hàng lại,như vậy mỗi đọan hàng sẽ có chiều dài hơn 10m,mỗi người thợ đứng một đầu để phơi hàng,khi thấy mặt trên cây hàng đã khô,người thợ sẽ trở hàng,xoay mặt phía dưới lên để phơi tiếp cho khô.
Công việc nhuộm hàng diễn tả thì đơn giản vậy chứ thực tế thật là cực nhọc bởi lẽ phụ thuộc rất nhiều yếu tố như:

-Thời tiết :Cần có nắng tốt để cây hàng mau khô, khi Cây hàng nóng nhuộm rất ăn Mặc nưa,gặp lúc thời tiết mưa nắng thất thường hay vào mùa mưa người thợ nhuộm rất cực mà năng suất không được bao nhiêu hay khi phơi hàng gặp lúc có gió lớn thì rất vất vả.

-Sức khỏe:Công việc nhuộm hàng đòi hỏi người thợ nhuộm phải có sức khỏe tốt vì ngòai những công việc thường làm như vắt hàng,phơi hàng đòi hỏi phải có sức mạnh cơ bắp thì người thợ nhuộm luôn phải dầm mưa dãi nắng,hoặc khi xả hàng thì phải xả từ đêm khuya,ngâm mình hàng mấy giờ đồng hồ trong nước bất kể thu đông !

-Phương tiện :
-Sân bãi : Sân bãi là điều kiện rất quan trọng vì nếu không có nó thì không thể phơi hàng sau khi nhuộm được, sân phơi được trồng cỏ và như ta đã biết,mỗi cây hàng sau khi gập đôi lại còn khỏang 10md, chiều rộng sau khi chừa hai bên là khỏang 1md,như vậy với 1 cặp thợ nhuộm khỏang 30 cây hàng thì cần khỏang : 30x1m x 10m = 300m2

-Khu vực đất làm sân phơi nhà tôi ngày đó có chiều rộng 25m dài hơn 100m,vì vậy cùng một lúc có thể nhuộm được khỏang 10 xấp hàng x 30 = 300 cây hàng

-Ngày xưa tính từ phía sau đường Hương lộ 2 (chạy dài từ đồn Giang cảnh cũ đến ngã ba với đường mới hiện tại) khỏang 50m là đồng cỏ để dành phơi hàng,nhờ vậy mà chiều chiều gần như tòan bộ thanh thiếu niên trai tráng của ấp Long Hưng cũ đều thỏa thích chơi bóng đá, đất nhà tôi ,đất Bác Hai Bùi,anh Sáu Phỏn cộng lại gần 80m chiều rộng được dùng làm sân banh Long Hưng,từ đó đã có bao nhiêu là thế hệ đội tuyển A,B,C,D Long Hưng nối tiếp nhau quần thảo trên sân cỏ thật vui và náo nhiệt làm sao!Từ đây đã có nhiều cầu thủ Long Hưng thành danh và thi đấu cho đội tuyển Quận Tân châu và cả đội tuyển tỉnh An giang như Chia,Xíu Thành,Thanh,Năng,Hùng …

-Cái sân bóng trên nền sân cỏ phơi hàng Lãnh Mỹ A này cũng thường xuyên đón tiếp các đội tuyển các tỉnh ,thành phố như đội An giang, Đồng Tháp,Tp Hồ Chí Minh …về thi đấu giao lưu cùng đội bóng Long Hưng, hoặc đội có tiếng tăm ngày đó như đội Đồng Tháp…Do là sân phơi nên mỗi lần mời được các đội nơi khác về thi đấu có bán vé,việc giữ gìn trật tự ,kiểm soát vé rất cực nhọc,vất vả ;vì sân không có rào chắn và khán giả thì đứng ngồi bao chung quanh sân nên thỉnh thoảng có những tình huống căng thẳng hay tấn công vào khung thành thì y như rằng khán giả lại chen lấn vào sân để xem cho rõ rất mất trật tự.

-Tôi nhớ một trường hợp hy hữu đã xảy ra trên sân Long Hưng khoảng năm 1976,Sân Long Hưng mời đội Quận 9 Sài gòn về thi đấu với đội Đồng Tháp ,đội Quận 9 có danh thủ Võ Thành Sơn và nhiều cầu thủ nổi tiếng của Sài gòn thời đó,đội Đồng Tháp lúc ấy rất nổi tiếng với những cầu thủ Việt kiều hồi hương từ Campuchia về thi đấu sau thảm họa năm 1970 như Bạch,Hảo Chôm,Minh …

-Phía sau khung thành để tránh trường hợp các khán giả chen vào ngồi ảnh hưởng đến sự tập trung của Thủ môn nên Ban tổ chức giăng kẽm gai bao che,tuy nhiên một số em nhỏ cũng chen vào ngồi rất sát khung rào kẽm gai.Trong một tình huống tấn công,trung phong Võ Thành Sơn có bóng căng ngang rất thuận lợi từ biên phải để tung cú vô lê sấm sét sở trường ngay chính diện khung thành nhưng anh không sút ngay mà lại quay người đảo một vòng xong mới sút.Trái bóng vì vậy đi rất nhanh và mạnh đến nỗi cuộn phăng rào kẽm gai sau khung thành và rất nhiều trẻ em bị kẽm gai cào cắt máu chảy dầm dề!Rất may là không có thương tích nặng. Sau khi trận đấu chấm dứt,vì đội bóng ăn nghỉ tại nhà tôi nên Ba tôi có lại hỏi Võ Thành Sơn:”Sao trái bóng đó cháu không sút ngay mà phải quay một vòng rồi mới sút”
Võ Thành Sơn trả lời :”Dạ, vì mấy anh ấy (đội ĐT) đá cứng lắm nên tình huống đó nhanh,cháu không kịp quan sát có hậu vệ đội bạn tranh chấp không nên không sút ngay được vì ngại,sau khi quan sát cháu mới dám sút “…

-Ngày đó các anh ở đội bóng đá ấp Long Thị A cũ gần như ngày nào (trừ những ngày mưa) cũng đến sân banh Long Hưng để đá bóng vì ở Long Thị A không có sân bóng còn Long Thị C thì đã có sân của Quận rồi .Trong lứa bạn bè học cùng thời với tôi ngày ấy thì Nguyễn Công Thành (Năm Xì dầu) và Nguyễn Thành Nhỏ là những thành viên tích cực của đội Long Thị A đến sân Long Hưng chơi bóng .

-Nghệ nhân Út Sua là một trong những người còn theo nghề dệt ngày nay thuở ấy là Chủ hội đội bóng đá Long Hưng ,Chú cùng chú Út Tỳ và Ba tôi cùng nhiều người khác nữa đã có công xây dựng và duy trì các phong trào Thể dục thể thao ,Văn hóa văn nghệ cho Ấp Long hưng và Xã Long phú ngày xưa một thời gian dài.(Về sau này Nhà nước thường phát động các phong trào Xã hội hóa…thật ra điều này đã có từ rất lâu rồi và có nhiều tổ chức xã hội và cá nhân (thường gọi là các Mạnh Thường Quân), tự phát không thông qua nhà nước nhưng đã có vai trò rất thiết thực và là hạt nhân kết nối các tầng lớp nhân dân trong nhiều mặt sinh hoạt cộng đồng ,phục vụ đời sống văn hóa xã hội địa phương)

-Vì vậy mà bên cạnh công việc lao động sản xuất là ươm tơ, dệt lụa và nhuộm hàng lãnh Mỹ A ,phải nói rằng những ngày đó công ăn việc làm đầy đủ,kinh tế phát triển,cuộc sống người dân sung túc nên các họat động giao lưu văn hóa thể thao thật sự là niềm tự hào của người dân Long Hưng.

-Nguồn nước: Một yếu tố không thể thiếu được trong nghề nhuộm hàng là nguồn nước,chủ yếu dùng để hòa trộn với nhựa Mặc nưa,bình quân mỗi ngày nếu nhuộm đủ nước một cặp thợ cần khỏang 1.000 lít nước sạch , các người thợ thường dùng đôi thùng chứa dầu lửa (dung tích mỗi thùng khỏang 20 lít ) gánh từ các hầm (ao) hoặc từ sông lên để sử dụng nên rất cực nhọc,vì vậy việc chứa nước trong các hầm và sử dụng máy nổ để bơm nước (ngày trước là máy nổ hiệu Koller của Mỹ + hệ thống bơm và sau này là moteur bơm nước dùng điện) là rất cần thiết và giảm thiểu rất nhiều nỗi vất vả cho người thợ.

Hình ảnh

Hình ảnh
Ảnh Vân Thủy - vietnamandyou.net

- Nước hàng : Một lần nhuộm cây hàng vào nước Mặt nưa và phơi khô xong gọi là một nước hàng,vì vậy những người thợ gặp nhau thường hỏi là :Mấy nước rồi ? là vậy.

- Da hàng : Mỗi đợt xả hàng là thời điểm kết thúc một da hàng để tiếp tục một da khác cho đến khi đã hòan thành đủ các yêu cầu về chất lượng cây hàng : Độ dày,cân nặng ,độ mịn,bóng …Thường thì người thợ có kinh nghiệm chỉ cần nhìn mặt hàng và sờ qua cây hàng là có thể nói ngay cây hàng này được mấy da …

Để nhuộm lụa Mỹ A hòan tất,cần khoảng từ 30 đến 45 ngày để ra thành phẩm ,một cây lãnh Mỹ A thường trãi qua 7 da hàng,”da nhứt” là dài nhất có thể nhuộm đến 15 ngày,các da sau ít hơn ,lần lượt là 5 ngày ,4 ngày…

Cây hàng trước khi nhuộm nặng trung bình khỏang 1.25kg sau khi nhuộm hòan tất nặng trung bình từ 1.75kg – 2 kg.
Trong quá trình nhuộm lãnh Mỹ A này còn có các phần công việc khác như:
- Xả hàng : Là công đoạn sau khi nhuộm đủ số ngày cần thiết cho một da hàng,người thợ nhuộm sẽ mang hàng xuống nước (thường là bến sông) để xả cho sạch hết các cặn bả trong quá trình nhuộm, thường người ta hay xả hàng từ khuya để đến sáng kịp mang ra phơi và tiếp tục các việc khác như “hồ hàng” ,“đập hàng” hoặc tiếp tục nhuộm trong ngày.
- Hồ hàng : Người thợ trộn bột hồ còn gọi là bột “Mì tinh” ngày tôi còn nhỏ cha tôi thường dùng những bịt bột hiệu “Con nai”vào một cái máng gọi là “máng hồ” thường được gia công bằng tole cuốn lại đặt bên dưới một khung gỗ có trục tay quay và quay từ từ để cây hàng thấm hồ và cuộn vào thanh cuộn (thường bằng gỗ đường kính khoảng Ø 60 dài 1.2m)

Hình ảnh
Ảnh Vân Thủy - vietnamandyou.net

Như ảnh chụp ta thấy bây giờ người thợ hồ hàng bằng moteur điện,còn ngày xưa phải quay trục hàng bằng tay quay,Ba tôi lại còn dùng một cây thước gạt có hình dáng giống cây thước thợ may bằng gỗ dài khoảng 0.5m để gạt bớt nước hồ không để thấm nhiều vào cây hàng sẽ bị quá dòn sau khi phơi.Mỗi lần quay hàng để hồ ,khi ông gạt nước,tôi phải ráng sức để quay,thật là mệt và kỳ công vô cùng .

- Đập hàng :
+Bỏ nước hàng:
- Trước khi đập hàng ,người thợ thấm nước trên toàn bộ cây hàng gọi là “Bỏ nước hàng”.(Bạn cứ tưởng tượng hình thức này giống như ta phun nước khi ủi quần áo vậy,lý do là để làm mềm cây hàng đồng thời để giảm nhiệt cho cây hàng vì khi đập hàng năng lượng tích tụ vào cây hàng phát sinh nhiệt rất lớn và cây hàng sẽ rất nóng,) người thợ trải cây hàng ra từng đoạn khoảng 2,5md trên một khung vĩ tre đặt trên mặt đất,sau đó dùng nhánh cây Chà (bó lại) thấm vào thau nước trong vẫy vào cây hàng vừa đủ ướt, xong dùng Cây nòng cuốn tròn lại mang vào đập.
Hình ảnh
Ảnh Vân Thủy - vietnamandyou.net

-“Cây nòng”: Ngày xưa Ba tôi cuộn xấp lãnh bằng “Cây nòng” làm bằng dây đai kết lại có đường kính khoảng Ø14.
Sau này Ba tôi chuyển sang dùng sắt tròn Ø14 làm cây nòng .
Hình ảnh

+Đập hàng :
- Cây hàng sau khi bỏ nước xong được người thợ dùng“Cây nòng” cuộn lại và mang đi đập.Ngày tôi còn nhỏ (khi chưa có máy đập như sau này),Cha tôi và các người thợ phải đập bằng sức người với các cây dùi được làm bằng gỗ tốt rất đẹp,tiếc là theo thời gian gia đình tôi đã không còn giữ lại được cây dùi nào để làm kỷ niệm.

- Thời gian đập : Tùy theo mỗi da hàng nhưng theo tôi nhớ mỗi cây hàng đập bình quân khỏang 10 phút (tùy theo da hàng) tôi nhớ chi tiết này nhất vì có lần cha tôi giao tôi đập hơn 20 cây hàng,mỗi cây phải đập khỏang 10 phút mà lúc đó đã khỏang hơn 2 giờ chiều,tính ra nếu đập đúng thì phải hơn 5giờ 30 mới xong mà tôi thì rất mê đá banh nên chiều thường ra sân banh đá cùng các anh,(lúc đó đội bóng Long Hưng khá nổi tiếng) nên vừa đập hàng tôi vừa tính tóan để ăn gian thời gian,kết quả là hơn 4 giờ chiều tôi đã đập xong để ra đá bóng,tôi biết Ba tôi cũng biết việc ăn gian của tôi nhưng có lẽ vì thương con nên Ông không nói thôi,còn tôi đôi khi nhớ lại trong lòng vẫn không yên vì không biết làm như vậy có ảnh hưởng đến chất lượng cây hàng không?(Chắc chắn là có rồi!nhưng ngày đó do còn nhỏ và không am hiểu lắm nên tôi suy nghĩ là lần sau có đập sắp hàng này tôi sẽ đập bù thêm thời gian,tức cười không ?)

- Bệ đập : Bằng đá xanh kích thước khoảng : (0.7x0.25x0.3)m, một phần âm vào nền đất ,phần nhô lên mặt đất khoảng 0.15m,mặt đá phẳng .

- Dùi đập: Làm bằng gỗ tốt,được gia công rất đẹp,một đầu tròn to (để nện vào cây hàng) và một đầu nhỏ là tay cầm,kích thước dài khoảng > 0.30m,đường kính đầu dùi khoảng Ø100 bo tròn các cạnh,mỗi chiếc dùi nặng khỏang hơn 2 kg. Có bài viết là “không còn nghe nhịp chày đêm khuya” là sai vì người thợ nhuộm gọi là dùi theo tiếng miền Nam ,còn chày là gọi theo tiếng miền ngòai.

- “Nhịp chỏi” :Khi tôi còn nhỏ,lúc đó còn chưa có điện,thường mỗi khi đập hàng nhà tôi đốt đèn “Măng sông” rất sáng. Gọi là “Nhịp chỏi” vì khi đập hàng người thợ nâng dùi lên và hạ xuống là một nhịp nhưng thường nếu hàng nhiều có khi phải đập đến rất khuya và rất buồn ngủ nên người thợ giỏi thường hay có kiểu thay vì đập đôi dùi xuống cây hàng thì lại gỏ hai chiếc dùi vào nhau thành tiếng kêu “lốp cốp” theo nhịp điệu tương tự như nhịp trống hay nhịp “song lan”nghe rất hay.

- Cách đập hàng (kiểu ngày xưa khi chưa đập bằng máy) : Khi đập hàng,hai người thợ ngồi xếp bằng đối mặt nhau trước bệ đập,cây hàng đặt nằm dọc theo chiều dài bệ,mỗi người thợ một đôi dùi đập,mỗi tay một chiếc,cứ người này đập xong đưa dùi lên thì người kia hạ dùi xuống ,một người thợ thường là người giỏi và có nhiều kinh nghiệm hơn sẽ dùng một chân để xoay trỡ cây hàng vừa di chuyển xoay tròn vừa di chuyển qua lại dọc bệ đập để cây hàng được đập đều.

Đây là một việc rất khó vì phải canh trong khỏang thời gian ngắn ngủi khi đôi dùi của một trong hai người chưa hạ xuống bệ và phải sử dụng chân thật thuần thục mới được.

Mỗi lần đến cử đập hàng ,nếu số lượng hàng nhiều và cần phải tranh thủ thời gian,người thợ phải đập trong nhiều giờ liền có khi từ buổi trưa đến tận khuya,khi đập hàng mỗi người thợ thường quấn ngang lưng quần một chiếc khăn rằn để thấm mồ hôi ,khỏang hơn tiếng đồng hồ lại tranh thủ lúc nghỉ ra vắt bớt nước,vì vậy ta thấy hình tượng những người thợ nhuộm rất đẹp khi đập hàng do vận động cánh tay rất nhiều nên người thợ nào cơ bắp tay cũng rất săn chắc,bắp thịt tay,ngực nổi lên cuồn cuộn trông rất đẹp!Vì đây là công việc rất nặng nhọc,cần có nhiều sức khỏe,sự khéo léo và bền bỉ nên có tận mắt chứng kiến mới có thể hiểu hết nỗi nhọc nhằn của nghề này!

Sau này khi Chú Sáu của tôi thử nghiệm và chế tạo ra máy đập hàng thì công việc của người thợ nhẹ nhàng đi rất nhiều và tất nhiên là “cây dùi” lần lần biến mất và người ta không còn nghe tiếng nhịp Chỏi những đêm khuya nữa…

Hình ảnh
Ảnh Vân Thủy - vietnamandyou.net

- Vuốt dầu: Sau khi hồ hàng lần cuối xong,trước khi vuốt dầu người thợ dùng tay “Chằng hàng” để kéo dãn mặt hàng và làm mềm cây hàng ,đây là giai đọan hòan tất cuối cùng khi đập hàng xong và chuẩn bị ra cây hàng thành phẩm.

- Khi vuốt dầu người thợ trải cây hàng ra dùng mảnh vải thấm “dầu dừa” hay dầu “Mazut” là một loại dầu công nghiệp có màu ửng đỏ lau khắp bề mặt cây hàng để tạo độ bóng mịn,sau đó “bắt” hàng và xếp thành một gói hàng rất đẹp kích thước chữ nhật khoảng (0.3x0.2x0.08)m, xong cho vào túi ni long chờ giao hàng cho khách.

Hình ảnh
Hình ảnh
Gói hàng chờ giao cho khách hàng

(Còn tiếp)


Sửa lần cuối bởi nguyenvanthang vào ngày 17 Tháng 2 2016, 09:32 với 7 lần sửa trong tổng số.

Đầu trang
Xem thông tin cá nhân
Tiêu đề bài viết: Dạ Lý - Re: LÃNH MỸ A TÂN CHÂU-MỘT THỜI VANG BÓNG - NVT
Gửi bàiĐã gửi: 15 Tháng 7 2012, 20:41
Ngoại tuyến
Super Member
Super Member

Tuổi: 57
Sinh nhật: 00-00-1960
Ngày tham gia: 12 Tháng 7 2011, 11:05
Bài viết: 938
Anh Thắng ơi, càng đọc bài viết càng thích và nhiều cái mắc cười quá. Anh đưa người đọc trở về với Long Hưng, Vịnh Đồn thuở xưa. Em mắc cười cái đoạn anh " ăn gian thời gian đập mấy cây hàng Lãnh Mỹ A "
chuyện lý sự ăn trái mặc nưa non của tụi con nít trên xóm Long Hưng. Mà hồi đó mấy con tằm có khi nào chúng bò ra khỏi cái nia, trên cái né nơi chúng nằm không? nếu có thì chúng bò chung quanh nhà à? Em cố tưởng tượng ra tiếng tằm ăn dâu - rào rào như tiếng mưa rơi trên mái nhà, mà không tưởng tượng ra được.
Em thích đoạn anh viết " tằm cả đời chỉ vất vả chăm lo việc ăn của mình để có cái tổ kén vàng ". Mùa hè đi làm về em hay múc một ly kem, hay một tô trái cherry mang lại trước máy vi tính vào diễn đàn vừa đọc bài vừa ăn, nhưng bài mấy con nhộng, con tằm của anh thấy hơi ớn nên không ăn gì nổi, hihi. Hồi đó ở Tân Châu bán gỏi đu đủ, người ta cho thêm tép luộc, một tí da heo luộc và vài con nhộng, đậu phong rang, rau thơm, nước mắm, ... riêng em thì không dám ăn con nhộng nên chẳng biết vị của nó ra sao. Mà ngộ thiệt, từ giống như một con sâu dài, cuối đời thu gọn lại như con nhộng, mà nếu người ta không lấy kén để tự nhiên thì con nhộng trong cái tổ kén của nó - sẽ biến thành con gì? ra sao?

Anh cứ thong thả mà viết, vì anh viết kể thêm rất nhiều kỷ niệm ở Long Hưng , Vịnh Đồn, thêm chút hài hước cho nên đọc rất thích. Hồi đó có dịp đi ngang xóm của anh, em nhớ chỉ toàn là nghe tiếng máy rầm rầm của khung cửi dệt lụa, tiếng đập hàng Lãnh Mỹ A.


Đầu trang
Xem thông tin cá nhân
Tiêu đề bài viết: NL Re: LÃNH MỸ A TÂN CHÂU-MỘT THỜI VANG BÓNG - NVT
Gửi bàiĐã gửi: 23 Tháng 7 2012, 09:50
Ngoại tuyến
Super Member
Super Member

Tuổi: 60
Sinh nhật: 00-00-1957
Ngày tham gia: 06 Tháng 7 2007, 10:22
Bài viết: 328
Thật là một bài viết - một tư liệu quí báu về một nghề truyền thống của Tân Châu quê nhà!
Trước đây em gái tôi và tôi đã viết về những kỉ niệm với gia đình người dì ruột, trong đó có nhắc sơ sơ đến nghề trồng dâu nuôi tằm. Nhưng hiểu biết của chúng tôi về nghề này chỉ là những hiểu biết hời hợt của "những đứa trẻ hồi đó". Nay nhờ bài viết trên tôi mới hiểu rõ và chi tiết được nhiều điều, thích nhất là biết được chỗ người ta thả tằm chín lên để tằm đóng kén gọi là cái né.
Đọc bài và xem những hình ảnh minh họa sinh động, tôi như sống lại thời thơ ấu với những kỉ niệm ngọt ngào cùng gia đình và bà con dòng họ.
Thật cám ơn tác giả.
Ngoc La


Bài viết cũ: viewtopic.php?f=22&t=556


************************************
"Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy,
Ta có thêm ngày nữa để yêu thương"


Đầu trang
Xem thông tin cá nhân
Tiêu đề bài viết: Re: LÃNH MỸ A TÂN CHÂU-MỘT THỜI VANG BÓNG - NVT
Gửi bàiĐã gửi: 02 Tháng 10 2012, 18:09
Ngoại tuyến
Super Member
Super Member

Tuổi: 60
Sinh nhật: 24-11-1957
Ngày tham gia: 29 Tháng 6 2012, 12:52
Bài viết: 377
Quốc gia: Vietnam (vn)

Người tạo chủ đề
II. SẢN XUẤT - THỊ TRƯỜNG VÀ TIÊU THỤ:
Trong phạm vi phần này,tôi chỉ xin nói về việc tổ chức sản xuất,thị trường và tiêu thụ sản phẩm những năm cuối thế kỷ 20,từ thế kỷ 21 khi việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm với các sản phẩm lụa mang các màu sắc của thời đại ,quảng bá sản phẩm vào thị trường thời trang thế giới,các định hướng phát triển …xin phép chưa được đề cập đến.

Trên địa bàn Quận Tân Châu ngày xưa có sự phân chia địa giới khá lạ lùng và mang tính ngẫu nhiên? hay đã được chính quyền thời đó thực hiện theo qui hoạch và định hướng phát triển từ trước ? Nói thế là bởi sự tập trung và hình thành cơ cấu tổ chức sản xuất vừa mang tính kế thừa vừa mang tính cộng đồng cao nếu căn cứ vào sự màu mỡ và những lợi ích tự nhiên,vô giá mà dòng sông Tiền mang lại cho đất đai và con người của vùng đất trù phú này .

Như phần trên đã đề cập đến ,từ đầu nguồn sông Tiền đến hạ nguồn là các xã Vĩnh Xương ,Vĩnh Hòa,Long An,Long Phú (Sau GP tách thành TT rồi Thị xã Tân Châu,hai ấp Long Châu và Long Hưng vẫn thuộc xã Long Phú đến năm 2009 lại thuộc Thị Xã Tân châu) rồi đến Long Thị A,Long Thị C …Như vậy ta thấy có sự phân chia như sau theo từng lĩnh vực của nghề trồng dâu nuôi tằm,ươm tơ dệt lụa và nhuộm Lãnh Mỹ A.

(Sau này có một số thay đổi về địa giới hành chính ,trong bài này để cho tiện tôi xin phép gọi tên theo địa giới hành chính cũ)

Hình ảnh

Tại vị trí đồn Giang Cảnh ngày xưa bến sông là một vùng vịnh (nên gọi là Vịnh đồn), những ngày tôi học tiểu học ở Trường Nam nơi đây có chiếc cầu bằng sắt lát gỗ bắt ngang qua con mương nhỏ, đến mùa nước đổ,giòng nước chảy qua dưới cầu cuồn cuộn mỗi lần đi học ngang qua rất sợ,rồi cây cầu này được xây dựng lại thành cầu bê tông và sau này lại được lấp đi,hai bên con mương có đường đi,con đường phía ấp Long Hưng lớn hơn và đi thẳng vào Long Đức Tự (còn gọi là chùa trong) nên còn có tên là Đường Chùa.

Từ đầu đường Hương lộ 2 vào khoảng 100m, phía bên phải là mộ vợ chồng nhà văn,nhà báo Nguyễn Chánh Sắt là người Tân Châu rất nổi tiếng ở Nam kỳ thời ấy. Khoảng năm 1940, ông lui về quê an hưởng tuổi già và mất tại Tân Châu ngày 6 tháng 6 năm 1947.

Hình ảnh
Hình ảnh
Thầy giáo Nguyễn Trọng Phúc - Nguyên Hiệu Trưởng Trường THCL Tân Châu (người có công đầu trong việc lấy tên nhà văn Nguyễn Chánh Sắt đặt tên cho trường cấp III đầu tiên vùng đầu nguồn sông Tiền, gồm cả An Giang và Đồng Tháp) ngậm ngùi trước cảnh nhớp nháp đang bủa vây mộ vợ chồng chủ bút Nguyễn Chánh Sắt.
Ảnh Lâm Điền-Báo Lao Động

Hình ảnh

Từ đường chùa trở ngược về phía thượng nguồn sông Tiền là Ấp Long Hưng,Long Châu thuộc Xã Long Phú rồi đến Long An ,Vĩnh Hòa,Vĩnh Xương ,nếu đi về phía hạ nguồn là Ấp Long Thị A, Long Thị C (chợ Tân Châu đặt tại đây)…

Ấp Long Hưng (Vinh đồn), nơi tập trung đông đúc nhất và là trung tâm của nghề ươm tơ, dêt lụa, nhuộm Lãnh Mỹ A ngày xưa .

Từ đồn Giang Cảnh cũ đến ngã ba hiện tại theo đường Hương lộ 2,dọc hai bên đường là nơi tập trung rất đông đảo các Lò Nhuộm Lãnh Mỹ A như lò Chú Hai Tây ,Chú Ba Trần văn Hiến, Cô Năm Hừng, Bác Hai Kính,Chú Út Khành,Chú Hai Mách, Bác Sáu Cộng,Mai Hồng (Hai Nhữ) của Ba tôi và các Chú tôi, Chú Tư Lẫm, Chú Sáu Suối, Anh Hai Tây(Đua),Chú Hai Mễ, Chú Tưởng ,ÚtMách,Ba Khế…và rất nhiều người nữa không thể kể hết…

Từ dưới ngã ba hiện tại một chút đến Mương nhỏ,giáp ranh ấp Long Châu là nơi tập trung đông đảo các Lò ươm tơ, Xưởng dệt , có thể kể ra như sau :
Lò Ươm :Chín Đởm,Hai Đớt,Mười Trảng,Tám Sội,Hai Phúc…
Xưởng dệt :Ba Chân,Hai Cẩm,Tư Tây…
Lò Ươm + Xưởng dệt : Đỗ Phước Hòa,Bầu Rao,Ba Trừ…
Xưởng dệt + Nhuộm :Chín Bốn,Bảy Ngộ,
Dệt,Ươm,nhuộm : lò Út Lượng (rể là chú Út Sua nay vẫn còn xưởng dệt)…

Tuy nhiên, vẫn có một vài trường hợp như lò nhuộm hoặc Xưởng dệt xen kẻ trong vùng nhưng chỉ là số ít.
Từ địa bàn Ấp Long Châu Xã Long Phú đến các Xã như Tân An,Vĩnh Hòa…là các địa phương có diện tích trồng dâu nuôi tằm cho cả Quận Tân châu ngày xưa.

- Các lò nhuộm ngày xưa thường do các người thợ am hiểu trong nghề đứng ra làm chủ, thường làm việc theo kiểu gia đình ,tức là cả nhà cùng làm từ cha mẹ con cái,cháu chắt …khi có lượng hàng đặt gia công nhiều,các lò thường phải thuê thêm nhiều “cặp” thợ tùy thuộc số lượng hàng .Rồi cũng căn cứ vào số lượng hàng đặt gia công mà các lò tính toán cho diện tích sân phơi ,cối đập hàng, số lượng Mặc nưa cần đặt thương lái để nhuộm …

Có một vài trường hợp cá biệt như chú Ba Trần văn Hiến gốc là Y sỹ nên khi mở lò giao cho thợ lành nghề trông coi còn chú thiếm chỉ quản lý. Sau này khi Chú mất cơ sở giao lại cho con là anh Trần Thanh Hồng và vợ là Lê Thị Kiều Hạnh gốc người Cù Lao nhỏ Long Khánh,tỉnh Đồng Tháp đã sớm làm quen với nghề dệt nhuộm truyền thống của gia đình chồng. Từ sau ngày lấy chồng về quê lụa Tân Châu sinh sống,quán xuyến và duy trì cơ sở dệt nhuộm của gia đình trong hơn mấy chục năm qua. Doanh nghiệp Hồng Hạnh (nay là cơ sở Hồng Ngọc) là một trong những cơ sở dệt nhuộm Lãnh Mỹ A còn lại của Vịnh đồn cùng cơ sở của chú Tám Lăng …
Hình ảnh
Hình ảnh
Quần áo thời trang từ Lãnh Mỹ A cơ sở Hồng Ngọc

- Chú Tám Lăng (Nguyễn Văn Long ) nghệ nhân còn sót lại của nghề dệt nhuộm Lãnh Mỹ A khởi đầu là thương lái Mặc nưa từ Campuchia về Tân Châu.Chú thường đậu ghe ở bến sông nhà tôi để giao Mặc nưa và từ đây đã khởi đầu cho mối nhân duyên của Chú với con người và cái nghề mà chú đã theo đuổi cho đến ngày hôm nay.

- Con trai chú Tám là Nguyễn Hữu Trí (SN 1973) từ năm 2003 đã dấn thân vào cuộc chơi tìm màu cho lụa Tân châu. Ròng rả trong hơn 5 tháng trời Trí đã tìm ra được bảng màu của tự nhiên và bí quyết kết hợp nhựa của những loài cây lá vô tri thành thuốc nhuộm (đến nay đã đủ 8 màu) ra các màu sắc như: hổ phách,màu hồng cánh sen, màu ca cao, xám đất, chàm, đồng, vàng, xanh… cho những tấm lụa Mỹ A ngoài màu đen truyền thống.

Hình ảnh
Nguyễn Hữu Trí bên sản phẩm lụa màu tự nhiên

- Những lò nhuộm ban đầu chỉ làm gia công theo đơn đặt hàng của các nhà buôn sĩ tại Chợ Tân châu.Thời đó gần như các gia đình giàu có và có tiếng tăm của ấp Long Thị C - Tân Châu (ngày xưa chúng tôi quen gọi là Chợ Tân Châu) đều gắn bó không nhiều thì ít với Lãnh Mỹ A. Có nhiều người có cả những xưởng dệt đầu tư lớn hoặc dệt tại nhà (thường trên lầu) và có thương hiệu,có người thuê dệt “hàng Chùi”,có người mua “hàng sống “ rồi giao các lò nhuộm gia công nhuộm …

Ở đây cần giải thích thêm:
-“Hàng chùi”: Nhiều chủ xưởng dệt do điều kiện nhà xưởng và số khung dệt không đáp ứng được số lượng sản phẩm cần thiết (hoặc không có xưởng) đã thuê các xưởng dệt khác hay thợ dệt để dệt gia công cho họ gọi là “Dệt hàng chùi”,số lượng tơ được cân giao theo kilo trọng lượng cần thiết của sản phẩm đã thỏa thuận và giao cho người làm “hàng chùi”.Khi ra thành phẩm được cân lại để kiểm tra sau khi khấu trừ hao hụt…

-“Hàng sống “ Là tên gọi Cây lụa tơ Xuyên sau khi dệt xong nhưng chưa nhuộm Mặc nưa
Một số các Nhà buôn tên tuổi ngày đó đã tham gia vào các công đoạn sản xuất,tiêu thụ sản phẩm liên quan Lãnh Mỹ A như :
Dân Hưng: Dệt hàng chùi
Thành Hòa, Lê Thành,Long Ký: Dệt
Ba Tống : Dệt hàng chùi +Mua hàng sống, giao nhuộm Lãnh Mỹ A gia công
Phước Hưng, Nguyễn Quang (Bà Thanh Nhã): Có xưởng dệt ,dệt hàng chùi + giao nhuộm Lãnh Mỹ A gia công
Hồi Sanh đường ,Phước Sanh đường…:Mua hàng sống, giao nhuộm Lãnh Mỹ A gia công…
và còn nhiều nhà buôn khác nữa…

…Những người này đã cùng với các nhà ươm tơ ,dệt lụa khác và các Lò nhuộm ở Long Hưng hình thành mạng lưới sản xuất, phân phối và tiêu thụ sản phẩm cuối cùng là Lãnh Mỹ A Tân châu trong suốt thời kỳ hoàng kim của nó và đưa Lãnh Mỹ A Tân Châu trở thành đặc sản độc nhất vô nhị của Tân Châu vang danh khắp miền Nam và đi ra thế giới.

Các nhà buôn tiêu thụ và phân phối sĩ hàng Lãnh Mỹ A cho các mối bán sĩ khác như khách hàng ở Sài gòn,Chợ lớn,các tỉnh Nam bộ và cả ra nước ngoài. Dần dần các chủ lò nhuộm cũng tích lũy vốn liếng,kinh nghiệm và đầu tư gia công Lãnh Mỹ A cho chính mình bên cạnh việc gia công cho các nhà buôn rồi giao hàng lại cho các mối sĩ hoặc tự tìm khách hàng cho riêng mình.
Thông thường khi nhận gia công từ các Chủ xưởng dệt hoặc các nhà buôn,Chủ lò nhuộm ứng trước tiền công xong đến Xưởng dệt nhận hàng (khoảng 30 cây lãnh cho một đợt nhuộm từ 40-45 ngày) sau đó thanh toán dần tùy theo số da hàng để chi trả tiền nhân công và nguyên vật liệu.

Ngày xưa người thợ nhuộm ra cây hàng đã cực khổ trăm bề mà việc tiêu thụ sản phẩm càng vất vả hơn.Ở Tân Châu mẹ tôi thường giao hàng cho các nhà buôn của Dì Hai Hồi Sanh đường ,Phước Sanh đường,Cô sáu Phước Hưng và sau này là các mối bán sĩ trực tiếp ở Sài gòn,Chợ lớn…những khi hàng hóa tồn đọng nhiều hoặc khi có mối gọi hàng Mẹ tôi phải đi giao hàng khắp nơi,chủ yếu là Sài gòn và các tỉnh khác ở miền Tây như Cà Mau,Bạc Liêu,Cần Thơ,Chương Thiện…các thương lái khác có người còn giao hàng tận Nam Vang ,Thái Lan…

Ngoài các nhà buôn sĩ tại chợ Tân châu và các mối sĩ tại Sài gòn,Chợ lớn kể trên,thường nhà tôi còn có các khách hàng như :
-Khách hàng bán lẻ tại địa phương: Thường là phụ nữ đứng tuổi, là những người quen biết hoặc người lạ được sự giới thiệu của người quen với các Lò nhuộm , họ đến xem hàng,đặt cọc và nhận hàng hóa đi bán lẻ thường là ở các tỉnh xa,xong về giao tiền và nhận đợt hàng mới để đi bán tiếp. Theo hình thức này nhà tôi thường bị mất tiền ,vì khách hàng thường không trả tiền đầy đủ (ngày nay gọi là chiếm dụng vốn) đòi tiền rất cực nhọc,mỗi khi Mẹ tôi gọi đi đòi tiền khách hàng (thường là chở Mẹ tôi đi bằng xe gắn máy hoặc đi một mình ) là tôi rất nản lòng vì có người thì than vãn hoàn cảnh khó khăn này nọ,cũng có người dỡ trò côn đồ…tôi đã cố gắng khuyên Mẹ tôi không bán cho những khách hàng này nhưng do bản tính nhân hậu nên Mẹ tôi vẫn bán,thậm chí Bà hay khuyên tôi:Chắc hoàn cảnh thôi,chẳng ai muốn giựt của mình đâu!Tội chết!

- Khách hàng các tỉnh: Do Mẹ tôi có một thời gian đi bán và giao hàng ở các tỉnh nên đã thiết lập được mối quan hệ với nhiều khách hàng,sau này khi công việc nhiều Mẹ tôi không đi được nữa thì khách hàng các tỉnh tìm đến nhà để nhận hàng,do ngày xưa chưa có điện thọai như bây giờ nên rất nhiều khi khách hàng đến nhà nhưng chưa đến đợt ra hàng thành phẩm thế là họ phải ở lại nhà tôi 5,3 ngày hoặc có khi cả 10 ngày để chờ nhận hàng , người Miền nam thường rất hiếu khách nên từ nhỏ tôi đã quen với việc có khách phương xa trong nhà và lâu dần cảm thấy rất thân thuộc như người trong gia đình vậy.

Thủ tục thuế quan khi vận chuyển ,mua bán hàng Lãnh Mỹ A ngày xưa cũng rất đơn giản,do cũng thường được giao làm công việc này nên tôi biết .Các lò nhuộm gia công đều có đăng ký hành nghề (có mộc dấu cơ sở hình chữ nhật) khi mua bán hàng hóa vận chuyển sang địa phương khác phải đến Thuế quan để đóng thuế, xong sẽ được nhận hóa đơn và các “Con niêm” có hình dáng tương tự nhưng lớn hơn con tem một chút để dán vào cây hàng làm bằng chứng đã hoàn tất thủ tục thuế quan.

- Ngày đó tôi thường đến làm các thủ tục này tại trạm thuế quan do anh Nguyễn Công Ca phụ trách tại nhà gần Trường Nữ Tiểu học Tân Châu xưa.

- Những người mua sỉ ở Sài gòn thì giao mối cho các tỉnh lân cận,các tỉnh miền Trung và sang cả các nước phương Tây.

Nguyễn Văn Thắng
(Trong bài viết có sử dụng một số tư liệu , hình ảnh từ Internet,một số hình ảnh về nhuộm hàng của Vân Thủy - vietnamandyou.net và langnghe.org.vn)
(Còn tiếp)


Sửa lần cuối bởi nguyenvanthang vào ngày 17 Tháng 2 2016, 09:50 với 5 lần sửa trong tổng số.

Đầu trang
Xem thông tin cá nhân
Hiển thị những bài viết cách đây: Sắp xếp theo
Tạo chủ đề mới Gửi bài trả lời [ 16 bài viết ] [ 0 tập tin đính kèm ] Chuyển đến trang 1, 2  Trang kế tiếp

» LÃNH MỸ A TÂN CHÂU-MỘT THỜI VANG BÓNG - NVT «


Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến và 1 khách


Bạn không thể tạo chủ đề mới trong chuyên mục này
Bạn không thể trả lời bài viết trong chuyên mục này
Bạn không thể sửa những bài viết của mình trong chuyên mục này
Bạn không thể xoá những bài viết của mình trong chuyên mục này
Bạn không thể gửi tập tin đính kèm trong chuyên mục này

Tìm kiếm với từ khoá:
Chuyển đến:

Ai đang trực tuyến?

Ai đang trực tuyến? Trong tổng số 1 người đang trực tuyến: không có thành viên, không có thành viên ẩn và chỉ có 1 vị khách
Số lượt người ghé thăm website đông nhất là 82 vào ngày 21 Tháng 2 2013, 20:46

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến và 1 khách

Thông tin trên được cập nhật trong vòng 5 phút vừa qua
cron
Powered by phpBBVietNam © 2006 - 2007 phpBBVietNam Group based on phpBB
Vietnamese translation by nedka
Founded by tranbc | Content © Trường Trung Học Công Lập Tân Châu